Latest Post

Blog này chuyên cung cấp các tài liệu miễn phí cho các bạn cần. Hãy click vào baner quảng cáo để ủng hộ mình nhé !

Hôm nay, xin giới thiệu với các bạn một bài viết khác của anh NĐH, một bài mà tôi cho rằng không cần lời dẫn, dù tôi đã từng được anh NĐH khen là viết lời dẫn rất duyên dáng (!) - một lời khen mà tôi nghe xong thì rất thích! :-)

Sở dĩ hôm nay tôi không dám viết lời dẫn là bởi vì bài viết ở dưới rất hay rồi, viết lời dẫn vào đấy thì e rằng nó không làm cho hay hơn mà sẽ làm hỏng bài viết đi. Nên thôi, cứ để các bạn tự cảm nhận, thưởng thức.

Nói thêm một câu: Blog này của tôi hình như đang dần trở thành nơi để đăng bài của anh NĐH thì phải! :-) Vì anh NĐH viết rất đều và rất nhiều, mà đa số toàn là bài hay cả. Còn tôi thì tùy hứng, lúc cao hứng thì viết nhiều nhưng nếu không có hứng thì đành để cho blog ... "man mác muôn đời mây trắng bay" thôi! (Ai không biết câu trích dẫn là ở đâu ra xin đọc bên dưới nhé.)

Enjoy!
---------------------

PHIẾM BÀN VỀ HOÀNG HẠC LÂU
Thôi Hiệu là một nhà thơ thuộc vào loại nổi tiếng nhất Trung Quốc từ xưa tới nay. Và bài thơ làm nên tên tuổi của ông chính là bài Hoàng Hạc Lâu. Tương truyền rằng khi Lý Bạch đến chơi Hoàng Hạc Lâu, thấy bài thơ này của Thôi Hiệu đề trên vách, bèn vứt bút không làm thơ nữa !

Bài ấy như sau :
黃鶴樓
昔人已乘黃鶴去,
此地空餘黃鶴樓。
黃鶴一去不復返,
白雲千載空悠悠。

晴川歷歷漢陽樹,
芳草萋萋鸚鵡洲。
日暮鄉關何處是,
煙波江上使人愁。


Hoàng Hạc Lâu
Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư hoàng hạc lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tải không du du
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu


Dịch nghĩa
Người xưa đã cưỡi hạc vàng bay đi,(2)
Nơi đây chỉ còn lại lầu Hoàng Hạc
Hạc vàng một khi bay đi đã không trở lại
Mây trắng ngàn năm vẫn phiêu diêu trên không
Mặt sông lúc trời tạnh, phản chiếu cây cối Hán Dương (3) rõ mồn một
Cỏ thơm trên bãi Anh Vũ (4) mơn mởn xanh tươi
Trời về chiều tối, tự hỏi quê nhà nơi đâu?
Trên sông khói tỏa, sóng gợn, khiến người sinh buồn!


Ghi chú:
(1) Ở phía tây nam thành Vũ Xương
(2) Tục truyền Phí Văn Vĩ thành tiên, thường cưỡi hạc về nghỉ ở Hoàng Hạc lâu
(3) Một địa điểm bên sông Dương Tử tỉnh Hồ Bắc
(4) Khu bãi bến khúc sông thuộc Vũ Xương tỉnh Hồ Bắc

Bài này người Tây cũng có dịch khá nhiều . Cụ thể là hai bản dịch sau đây :

Bản Tiếng Pháp:
Le Pavillon de la Grue Jaune
Monté sur une grue jaune, jadis, un homme s'en alla pour toujours;
Il ne resta ici que le Pavillon de la Grue Jaunẹ
La grue jaune, une fois partie, n'est jamais revenue;
Depuis mille ans les nuages blancs flottent au ciel, à perte de vuẹ
Par temps clair, sur le Fleuve, on distingue les arbres de Han Yang;
Sur l'Ile des Perroquets, les herbes parfumées forment d'épais massifs.
Voici le soir qui tombẹ Où donc est mon pays natal ?
Que la brume et les vagues sont tristes sur le Fleuve!

P. Demiéville (Anthologie de la poésie chinoise classique, Gallimard, Paris, 1962)

Bản Tiếng Anh:
Home Longings
Here a mortal once sailed up to Heaven on a crane,
And the Yellow-Crane Kiosque will for ever remain;
But the bird flew away and will come back no morẹ
Though the white clouds are there as the white clouds of yore.
Away to the east lie fair forests of trees,
From the flowers on the west comes a scent-laden breeze,
Yet my eyes daily turn to their far-away home,
Beyond the broad River, its waves, and its foam.

H. A. Giles (Chinese poetry in English verse, London, 1898)

Ở Việt Nam có khá nhiều bản dịch Hoàng Hạc Lâu, trong đó có những tên tuổi như Ngô Tất Tố, Vũ Hoàng Chương, Trần Trọng Kim … nhưng bản dịch của Trần Trọng San và Tản Đà là được nhắc đến nhiều hơn cả.

Bản dịch của Ngô Tất Tố
Người xưa cưỡi hạc đã cao bay,
Lầu hạc còn suông với chốn nàỵ
Một vắng hạc vàng xa lánh hẳn,
Nghìn năm mây bạc vẩn vơ baỵ
Vàng gieo bến Hán, ngàn cây hửng,
Xanh ngắt châu Anh, lớp cỏ dầỵ
Trời tối quê hương đâu tá nhỉ ?
Đầy sông khói sóng gợi niềm tây.


Bản dịch của Vũ Hoàng Chương:
Xưa cánh hạc bay vút bóng người
Nay lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi
Vàng tung cánh hạc, bay bay mãi
Trắng một mầu mây, vạn vạn đời
Cây bến Hán Dương còn nắng chiếu
Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi
Gần xa chiều xuống, đâu quê quán ?
Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi !


Bản dịch của Trần Trọng Kim:
Người đi cưỡi hạc từ xưa,
Đất này Hoàng Hạc còn lưu một lầu.
Hạc vàng đi mất đã lâu,
Ngàn năm mây trắng một màu mênh mông.
Hán Dương cây bóng lòng sông,
Bãi kia Anh Vũ cỏ trông xanh rì.
Chiều hôm lai láng lòng quê,
Khói bay sóng vỗ ủ ê nỗi sầu.


Bản dịch của Trần Trọng San:
Người xưa cưỡi hạc bay đi mất,
Riêng lầu Hoàng Hạc vẫn còn đây.
Hạc đã một đi không trở lại,
Man mác muôn đời mây trắng bay.
Hán Dương sông tạnh, cây in thắm,
Anh Vũ bờ thơm, cỏ biếc dày.
Chiều tối, quê nhà đâu chẳng thấy
Trên sông khói sóng gợi buồn ai.


Và cuối cùng là bản dịch của Tản Đà:
Lầu Hoàng Hạc
Hạc vàng ai cưỡi đi đâu
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ
Hạc vàng đi mất từ xưa
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay
Hán Dương sông tạnh cây bày
Bãi xa Anh Vũ xanh dầy cỏ non
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.


Bình & Tạm kết:
1. Tôi biết bài thơ này từ nhỏ. Quê tôi vùng sông nước, nhà sát bên một ngôi cổ tự, nên thường được nghe sư cụ ngâm nga giảng giải nào là Đề Tích Sở Kiến Xứ, Phong Kiều Dạ Bạc, Tầm Ẩn Giả Bất Ngộ…và Hoàng Hạc Lâu !

Đến hồi lên trung học tôi cũng thường được nghe các thầy Nguyễn Khắc Trừng, Hạc
Thành Hoa bình luận về Thôi Hiệu và Hoàng Hạc Lâu nên càng mê lắm. Cũng đôi lần tôi vỏ vẻ dịch làm chơi nhưng đem khoe sư cụ, thấy thầy đọc xong mà cười ha hả là biết kết quả rồi ! Thầy thường chỉ đọc thơ bằng chữ Hán Việt hơn là các bài dịch ra Tiếng Việt, thí dụ :

Sơ tam sơ tứ nguyệt mông lung
Bán tự ngân câu bán tự cung


Hay :
Hoàng Hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tải không du du


Tôi hỏi thì thầy nói các bản dịch không toát được cái thần thái ý tứ của bài thơ. Mà tôi
nghiệm ra cũng thấy có lý. Bài Hoàng Hạc Lâu này chẳng hạn, ngoại trừ bài dịch của
Tản Đà, và phần nào đó là bản dịch của Trần Trọng San, còn mấy bản dịch kia có vẻ khá gượng ép, miễn cưỡng. Thí dụ trong bản dịch của các cụ nói trên thì ngay câu đầu tiên tôi thấy đã có phần không ổn.


Bản dịch của Ngô Tất Tố: Người xưa cưỡi hạc đã cao bay – thì hai chữ cao bay dễ làm
cho ta liên tưởng tới cụm từ cao bay xa chạy – vốn không có ý nghĩa tốt đẹp lắm.


Bản dịch của Vũ Hoàng Chương : Xưa cánh hạc bay vút bóng người.Trong câu này chữ bay vút theo tôi là hỏng !

Bản dịch của Trần Trọng Kim : Người đi cưỡi hạc từ xưa. Trong câu này nếu đặt lại
thành cưỡi hạc người đi thì nghe còn được. Chứ nếu như vậy thì đã đi lại còn cưỡi nữa !


Bản dịch của cụ Trần Trọng San thì khá mẫu mực nhưng tôi đọc không thấy cảm xúc như bản dịch của Tản Đà, dù cụ này dịch ra theo thể lục bát. Thế nhưng chính bài dịch của cụ Tản Đà cũng phải chịu nhiều lời phê bình trái ngược nhau !

Điều đó có nghĩa là Hoàng Hạc Lâu vẫn còn là bài thơ chờ người dịch.

2. Mấy chục năm sau trở lại chùa xưa thăm mộ thầy, mộ thì hiu hắt còn chùa xuống cấp không còn ai tu. Chú tiểu năm xưa lên làm trụ trì. Không biết chữ Nho, cũng không ham thích thơ văn, nên tủ sách của thầy tôi mối xông gần hết. Tôi phải xin vào dọn dẹp bảo quản. Và tôi không kìm được nước mắt tìm lại được những bài tập viết, những bài dịch thơ chữ Việt, chữ Nho của tôi thuở trước. Thầy tôi để trong một cái túi vải lại có bọc nilon dày thành ra còn gần như nguyên vẹn. Thế mà thầy đã đi rồi. Không bao giờ trở lại.

3.Đêm đó tôi ở lại chùa, với rất nhiều cảm xúc và đau lòng, và thật là bất ngờ là tôi đã
dịch xong được bài Hoàng Hạc Lâu.- điều mà những năm thanh xuân tôi không bao giờ làm được. Bấy giờ là nửa đêm ngày 25 tháng 8 Âm Lịch năm 2008. Tính ra đã hơn 4 năm, hôm nay xin mạo muội giới thiệu cùng quý vị :


Lầu Hoàng Hạc
Cưỡi hạc người đi từ vạn thuở
Để lầu Hoàng Hạc đứng trơ đây
Ngàn năm mây trắng chẳng thôi bay
Muôn kiếp hạc vàng không trở lại
Anh Vũ cỏ xanh thơm ngoài bãi
Hán Dương cây trải bóng ven sông
Quê hương chiều lữ thứ mênh mông
Khói sóng trường giang buồn tịch mịch.

Nguyễn Đại Hoàng
3/2013

----------
PS1: Các bạn có thấy trong bài thơ có từ Anh Vũ, và từ này được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong các bản dịch không? Anh Vũ, tên của blog này, là tên và họ của tôi, và cũng là bút danh hồi còn trẻ nữa. Và một trong những lý do tôi lấy bút hiệu Anh Vũ cũng là vì bài thơ này đấy. Tôi rất mê bản dịch của Tản Đà, dù cho có ai nói gì đi nữa!

PS2: Câu nhận xét của tôi ở trên ("blog này dần thành nơi đăng bài của anh NĐH thì phải") chỉ là một nhận xét có tính đùa vui, vì tên của blog là bloganhvu thì lẽ ra phải đăng bài của Anh Vũ. Nhưng khi đọc lại tôi mới thấy hình như nó có thể được hiểu rằng tôi đang than phiền anh NĐH đăng nhiều quá trên blog này? Nếu vậy, xin được làm rõ: tôi viết câu đó với ý "hàm ơn" vì anh NĐH đã ưu ái gửi bài cho tôi đăng, để blog không bị "buồn tịch mịch" thôi.

Mà quả đúng vậy, từ ngày có bài đều đặn - mà nhiều bài của anh NĐH - thì bloganhvu thu hút được nhiều độc giả hơn nhiều. Nên bây giờ bloganhvu sẽ được hiểu là blog để đăng bài của Anh Vũ và bạn bè của AV, các bạn nhé!

PS3: Đăng bài này lên được mấy ngày thì tôi nhận được comment của anh Xuân Lộc giới thiệu một bài viết khác cũng bàn về chính bài thơ này. Thú vị hơn là trong entry của anh có thêm mấy bản dịch khác, trong đó có cả bản dịch của GS Nguyễn Huệ Chi, tác giả của bài bình thơ ấy. Chép luôn lên đây để lưu và để mọi người cùng so sánh, thưởng thức luôn!

Nói thêm: Tôi rất thích bản dịch của Vũ Hoàng Chương, một bản dịch mà như anh XL nói, thật đầy tâm trạng. Đặc biệt, 2 câu cuối cùng của bản dịch của VHC làm tôi nhớ một câu thơ mà chính tôi đã dịch cho bài thơ Le Mirabeaux và đã đăng blog này trước đây.

Câu của VHC như thế này:

"Gần xa chiều xuống đâu quê quán/Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi".

Còn câu của tôi - tất nhiên, tôi xách dép cho VHC cũng chẳng được, mặc dù ... là bà con, cùng họ Vũ mà! - sao tôi thấy cũng có chút gì hao hao, mà hoàn toàn trùng hợp ngẫu nhiên, không đạo văn gì cả vì hôm nay tôi mới biết bản dịch này của VHC:

"Đời mệt nhoài, tình xa vời vợi/Dữ dội chi tiếng sóng lòng ơi!"

Thơ, đúng là một nơi trú ẩn của cho tâm hồn mệt mỏi của chúng ta, phải không các bạn. Thì, tôi đã từng nói rồi còn gì: Nơi trú ẩn của tôi/Là thơ đấy ...

------------

Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục 
Người tiên xưa cưỡi Hạc vàng cút,
Ở đây chỉ những lầu hạc trơ,
Hạc vàng đã cút chẳng về nữa,
Mây trắng ngàn năm còn phất phơ.
Sông bọc Hán Dương cây xát xát,
Cỏ tiên Anh Vũ bãi xa xa.
Ngày chiều làng cũ đâu chăng tá?
Mây nước trên sông khách thẫn thờ !(1)


Nguyễn Khuê 
Cưỡi hạc người xưa đi đã lâu,
Còn đây Hoàng Hạc chỉ trơ lầu,
Hạc vàng biền biệt từ xưa ấy
Mây trắng lững lờ đứng mãi sau.
Sông lạnh Hán Dương cây lắng bóng,
Bãi thơm Anh Vũ cỏ tưoi màu.
Chiều buồn quê cũ nơi nào nhỉ?
Khói sóng trên sông giục khách sầu.

Khương Hữu Dụng
 
Ai cưỡi Hạc vàng đi mất hút,
Trơ lầu Hoàng Hạc chốn này thôi
Hạc vàng một đi đã đi biệt
Mây trắng ngàn năm bay chơi vơi.
Sông tạnh Hán Dương cây sáng ửng,
Cỏ thơm Anh Vũ cỏ xanh ngời,
Hoàng hôn về đó,quê đâu tá?
Khói sóng trên sông não dạ người.

Và cuối cùng là ...

GS Nguyễn Huệ Chi
 Hạc vàng người trước cưỡi đi rồi
Lầu trống còn tên Hoàng Hạc thôi,
Một thuở hạc vàng không trở lại,
Nghìn năm mây trắng vẫn đang trôi.
Hán Dương cây đứng soi sông sáng,
Anh Vũ cỏ non biếc bãi bồi.
Chiều tối quê hương nhìn chẳng thấy
Trên sông khói sóng dạ bồi hồi.

Tôi vừa nhận được bài bình thơ dưới đây của anh NĐH, đọc qua một lần không thực sự hiểu vì không có - dù chỉ một chút - kiến thức về văn hóa Trung Hoa cổ, lại càng không thấu được ý tưởng sâu xa của bài bình thơ/họa thơ/dịch thơ của anh NĐH. Nhưng vẫn thấy đây là một bài viết hay, cao xa về tư tưởng và thâm sâu về ý tứ,  như núi như mây.

Ít nhất, cái hay mà tôi cảm nhận được nằm ở cái đẹp của ngôn ngữ, nhất là trong hai câu:

Người đi về lối ấy/Mây núi đã ngàn năm

Tôi đặc biệt thích câu thơ gần cuối: Người đi về lối ấy ... người đi về lối ấy ... Nó gợi lên một nỗi nhớ xa xăm và một ước vọng chưa thành, một chút buồn nhè nhẹ mà da diết. Câu thơ làm tôi  tự nhiên nhớ lại 4 câu thơ khác của nhà thơ Cao Tiêu mà tôi đã đọc được trong tập thơ Cao Tiêu của ba tôi (hình như là được tác giả đề tặng, cuốn thơ in khổ lớn, giấy đẹp) khi tôi còn học trung học đệ nhất cấp trước năm 1975 (bây giờ gọi là trung học cơ sở), như sau:

Em về, em về rồi
Thương nhớ nặng hồn tôi
Xa xăm tình băng giá
Hò hẹn thế, rồi thôi!

Tất nhiên, hai bài thơ rõ ràng chẳng có gì liên quan với nhau cả, nhưng chẳng hiểu sao đọc bài này tôi lại liên tưởng đến bài kia. Sự liên tưởng này là do đâu, ắt hẳn cũng là một điều đáng để quan tâm nghiên cứu, vì chắc chắn nó phải phản ánh một cái gì đó trong tâm lý của người có dòng liên tưởng ấy.

Nhưng nói thế thôi; nghiên cứu để làm gì cơ chứ; ta hãy lắng lòng để thưởng thức cái đẹp của bài thơ!

Xin đăng lên đây để chia sẻ với mọi người, đặc biệt là anh Giang Nam lãng tử, người có nhiều hiểu biết về văn hóa Trung Hoa, và là người đã tạo ra cảm hứng cho anh NĐH viết bài bình thơ này.

Và mong các bạn đọc blog này có được những giờ khắc nhẹ nhàng cuối cùng của một ngày chủ nhật.
------------------

MÂY NÚI ĐÃ NGÀN NĂM …

Bài Tầm Ẩn Giả Bất Ngộ là một tuyệt tác!

4 câu và 20 chữ đủ làm cho tên tuổi Giả Đảo đứng vững vài ngàn năm nữa. Thế nhưng cái hay của bài thơ đâu phải vì độ ngắn của nó. Hoặc có thể nó ngắn nhưng không nhỏ! Nó rất lớn!

Bài thơ có vẻ như một loại vật chất được tinh lọc và nén rất chặt thành ra hình dạng biểu kiến là rất gọn gàng. Và khi được thả vào một môi trường thích hợp nó lại nở bừng và có khuynh hướng tìm về nguyên trạng như nó vốn có. Đó có thể coi như một sự đàn hồi của thơ!

Thế nhưng không giống với sự đàn hồi trong vật lý – loại đàn hồi có thể đạt tỉ lệ 100% - sự đàn hồi trong thơ thường chỉ là x% thôi!

Và sự biến thiên của x tùy thuộc vào môi trường mà bài thơ được thả vào. Tức là tùy thuộc vào độ cảm thụ của mỗi chúng ta. Và độ cảm thụ của mỗi người trong chúng ta luôn khác nhau nên x trong chúng ta sẽ khác nhau!

Hệ quả là cùng một bài thơ có hàng trăm cách hiểu khác nhau, tức là hằng trăm bản dịch khác nhau.

Đó cũng là trường hợp của bài Tầm Ẩn Giả Bất Ngộ. Hãy xem nguyên tác:

Tùng hạ vấn đồng tử
Ngôn: sư thái dược khứ
Chỉ tại thử sơn trung
Vân thâm bất tri xứ

Một bài thơ ngẳn ngủi mà có tới 3 nhân vật (đồng tử, sư và khách), 4 thiên nhiên: (tùng, dược, sơn, vân), 3 tĩnh từ (hạ, trung, thâm) và  đặc biệt có tới 7 động từ (vấn, ngôn, thái, khứ, chỉ, tại, tri)! 7 động từ cho 20 từ! Có bài thơ ngắn tương đương nào có tỉ lệ động từ cao như vậy chưa? Và càng nhiều động từ thì càng động! Phải không?

Bởi vậy suy nghĩ cho kỹ thì đây đâu chỉ là một bài thơ động, mà hơn thế còn là một bức họa động!

Và nếu như cho tới nay chưa có bức họa nào có thể “vẽ” hết được những điều mà ngôn ngữ bài thơ hàm chứa, thì cũng chưa có bản dịch nào có thể “chuyển” được những điều mà ý thơ muốn nói! Cái Có của bài thơ không chỉ là cái Có trong nó mà quan trọng hơn là cái Không Có trong nó! Ai cũng có thể diễn được cái có, nhưng mấy ai diễn được cái không?

Người khách đã tới chốn sơn lâm mong gặp ẩn giả, và đã hỏi chuyện tiểu đồng. Chưa có câu trả lời.

Chưa biết khách sẽ ngộ hay bất ngộ sư. Và đến hôm nay, đã hơn ngàn năm trôi qua, cũng chưa có câu trả lời! Người hỏi và người được hỏi vẫn đứng ngàn năm dưới cội tùng!

Tôi có cảm giác mình cũng là một khách vân du đi tìm cố nhân, tôi muốn hỏi chú tiểu đồng những câu hỏi mà năm xưa chú đã được hỏi. Tôi nghĩ chú vẫn sẽ chỉ vào chốn xa xôi, mây núi chập chùng.

Tôi nghĩ mình sẽ qua đêm tại chốn sơn lâm cùng cốc đó để đợi một điều có thể nên đợi và không nên đợi. Ngộ hay bất ngộ đều như nhau! Tôi chỉ biết ngàn năm đang trôi. Tôi chỉ biết tôi vẫn là một người khách của thời gian. Và sư vẫn hái thuốc chưa về!

Bởi vậy một đêm tự nhiên tôi có một “bản vẽ” như thế này: 

Dưới bóng tùng hỏi thăm
Sư hái thuốc xa xăm
Người đi về lối ấy
Mây núi đã ngàn năm …

Giang Nam tiên sinh đã chính xác khi cho rằng  bản dịch “không tải hết được nội dung nguyên tác vốn hàm súc (hình tượng em bé / quan niệm của em về đường đi, phương hướng nơi núi rừng, nỗi băn khoăn lo ngại của khách nhìn mây dày đặc (vân thâm)”.

Vâng đúng vậy thưa Giang Nam tiên sinh cùng quý vị, như trên tôi đã nói, một bài thơ quá Động thì dịch phải nói là chuyện vô cùng khó. Bởi chỉ có Tĩnh mới chế được Động, mà trong cuộc đời này, cái Tĩnh cũng chính là cái chúng ta đang tìm kiếm và nuôi dưỡng hàng ngày.

Tuy nhiên hôm nay tới thăm Giang Nam tiên sinh, tôi tìm thấy một chút Tĩnh cho mình. Đó là bài phiếm bình tôi viết hôm nay.Sư, tiểu đồng và vị khách đi về đâu?

Tôi nghĩ là không ai biết cả, nhưng mà tôi có thể nói như thế này:

Người đi về lối ấy
Mây núi đã ngàn năm …

Quý vị có thấy tôi chỉ đường có hay hơn anh tiểu đồng năm xưa không? 

Nguyễn Đại Hoàng

Cuối tuần, gửi đến các bạn bài viết thú vị về nước Mỹ qua giọng văn châm biếm của một người Trung Quốc. Bản tiếng Việt do anh Nguyễn Đại Hoàng chuyển ngữ kèm lời giới thiệu. Chúc các bạn có những phút giây thư giãn.

Khuyến mãi: Các bạn thử đọc tờ Tea Leaf Nation ở đây: http://www.tealeafnation.com/
---------

CÒN ĐI MỸ LÀM GÌ NỮA !   


Dẫn : Xuất hiện lần đầu tiên trên mạng  xã hội Sina Weibo,  bài viết này đã nhận được hàng chục ngàn chia sẻ và bình luận. Nội dung  tưởng như châm chích cười cợt  mỉa mai  nước Mỹ như một quốc gia ngu ngốc, sơ khai và ngây ngô, nhưng thực ra lại là lời phê phán sắc sảo sâu cay thú vị về chính Trung Quốc ! Tờ Tea Leaf Nation đã trích dịch , biên tập lại những phần đinh nhất của bài viết nói trên. Chúng tôi xin giới thiệu sau đây  bản chuyển ngữ  của Nguyễn Đại Hoàng.  ( Phần Tiếng Anh đính kèm bên dưới ).



Tôi có thời gian qua Mỹ khá lâu. Và nói thật đến giờ này tôi vẫn còn thấy hối hận vì sự lựa chọn đó! Truyền thông phương Tây đã khiến chúng ta mê muội rằng Hoa Kỳ là một xứ sở hiện đại ! Tôi đã từng ôm giấc mộng được học tập ở đó, đã tìm mọi cách tới được cái xứ sở siêu cường đó.



Nhưng than ôi những gì tôi chứng kiến là rất đáng thất vọng ! 



1. Công nghiệp



Nước Mỹ thật ra chỉ là một làng quê khổng lồ chậm phát triển !

Hồi trung học, chúng ta đã được dạy rằng, công nghiệp càng phát triển  bao nhiêu thì môi trường càng bị xâm hại bấy nhiêu.


Chúng ta biết rằng một thành phố công nghiệp tất phải có nhiều ống khói,nhiều nhà máy và khói bụi khắp nơi. Đó là biểu tượng của sự công nghiệp hóa ! Thế mà ở tại xứ Cờ Hoa này, tịnh không có một cái ống khói nào ! Họa hoằn lắm mới thấy một vài cái nhỏ tí  ti để trang trí nhà cửa thôi !


Và ở Mỹ bạn cũng chỉ thấy toàn sông hồ trong sạch thôi. Chả tìm đâu ra những nhà máy giấy, nhà máy luyện thép bên bờ sông ! Không khí trong lành thanh khiết này là dấu hiệu của một xã hội sơ khai chứ gì nữa ! Chả có dấu vết gì của công nghiệp hóa cả !  


2. Kinh tế 

Người Mỹ hầu như không biết làm kinh tế ! Bạn biết đấy, nước họ có cơ man nào là xa lộ tỏa đi mọi hướng, vươn đến mọi làng mạc xa xôi, thế mà tịnh không thấy một trạm thu phí nào ! Thế là mất toi cả núi vàng!  

Ước gì tôi có thể xây dựng vài cái trạm thu phí nhỉ ! Chắc chắn non tháng đã gom đủ tiền mua được cả tòa lâu đài trông ra Đại Tây Dương ấy chứ ! 

Hai bên xa lộ còn những cụm hồ hoang sơ tĩnh lặng. Thế mà chính quyền cứ để mặc cho lũ chim trời cá nước thỏa sức vẫy vùng, không nghĩ đến việc xây dựng vườn cảnh để thu lợi. Người Mỹ rõ ràng là không có đầu óc kinh tế tí tẹo nào !  


3. Xây dựng

Trình độ xây dựng của người Mỹ còn sơ khai lắm.Ngoài một số ít tòa nhà chọc trời tại các thành phố lớn, tôi dám chắc bạn rất ít gặp những công trình bê tông  ở nước Mỹ. Nhà của người Mỹ thường làm bằng gỗ và vài thứ vật liệu khác. 

Thử nghĩ mà xem, đến giờ này mà  gỗ vẫn còn được dùng để xây dựng nhà cửa, thì có thể nói là trình độ kiến trúc của ngoại bang này còn thua xa trình độ của triều đại nhà Thanh  xưa kia ấy chứ ! 


 4. Văn hóa 

Người Mỹ có cách suy nghĩ thật là lạc hậu và khờ khạo.

Hồi mới tới Mỹ, tôi thuê một xe chở hành lý giá 3 đô la. Nhưng tôi lại không có tiền lẻ. Một người Mỹ liền trả dùm tôi 3 đô la đó, và thấy tôi lỉnh kỉnh đồ đạc nên còn giúp mang lên xe nữa ! Người Mỹ cũng luôn sẵn sàng mở cửa giúp tôi và hỏi tôi có cần giúp đỡ gì không ? Thế đấy ! 

Ở nước ta, mấy chuyện này chỉ có vào thời Lôi Phong tức là vào những năm 50, 60 của thế kỷ trước thôi - còn bây giờ lối cư xử đó quá ư lạc hậu. ( Lôi Phong là một thanh niên mà thời Mao thường nhắc tới như một tấm gương về đạo đức). 

Hồi đó người ta chuộng lối sống “ đạo đức giả ”nhưng bây giờ chúng ta không như vậy nữa. Bây giờ chúng ta nên sống thực dụng trần trụi, đó mới là hiện đại chứ ! Tư duy của người Mỹ lạc hậu hơn chúng ta hàng mấy thập kỷ, và không có dấu hiệu nào cho thấy họ có thể bắt kịp chúng ta cả ! 


 5. Ẩm thực

Người Mỹ làm như không biết thưởng thức thịt thú rừng.

Một đêm nọ, tôi cùng các bạn cùng lớp lái xe đi đến một thành phố khác, thình lình có mấy con nai nhảy xổ ra. Anh bạn tôi lập tức thắng lại và bẻ sang hướng khác để tránh. Ai cũng biết tai nạn loại này có thể làm hỏng cả chiếc xe. Thế mà chính quyền  đành bó tay không biết phải xử lý tụi thú hoang này như thế nào cơ đấy ! 

Người Mỹ làm như cũng không biết ăn thịt thú rừng, thậm chí không có nhà hàng nào bán  thịt thú rừng, họ chả thiết đến loại thịt thú rừng thơm ngon bổ như hươu nai, và cũng chả thiết lấy sừng bọn thú này để kiếm bộn tiền ! Người Mỹ vẫn sống cùng những con thú hoang dã đó, thậm chí còn đưa ra những biện pháp để bảo vệ chúng. Quả thật đó là một xã hội còn quá sơ khai ! 


 6. Phong cách

Người Mỹ làm như không biết tự trọng ! 

Các giáo sư Mỹ không quan tâm nhiều đến bề ngoài , họ không hề có cái gọi là phong thái bác học. Giáo sư D chẳng hạn, là một giáo sư  tâm lý học cực kỳ nổi tiếng thế mà giờ nghỉ ông ấy cũng thường ăn  bánh bích quy với sinh viên trong văn phòng của mình, và bàn tán xôm tụ với họ về bộ phim 21, hay về minh tinh Trung Quốc Chương Tử Di ! Ông cũng không có phong cách uy nghi của một nhà bác học, và điều đó làm tôi thất vọng ghê gớm ! 

Các nghiên cứu sinh sau tiến sĩ cũng không bao giờ ghi hai chữ PhD. lên danh thiếp của mình. Họ thậm chí cũng không biết cách thể hiện vị thế của mình. Thành ra những người học những ông thầy như vậy nếu trở thành những quan chức thì làm sao biết cách đi đứng nói năng cho đúng bộ lệ đây !

Còn ở Trung Quốc, giờ đây các công chức dường như rất biết cách để thu hút sự kính trọng của dân chúng, thậm chí đến cả vị giám đốc của một cơ quan tầm tầm ở Trung Quốc có khi còn uy thế hơn cả Tổng Thống Mỹ cơ đấy !  Một công dân hạng ba của Trung Quốc có khi còn xa một công dân hạng nhất của Mỹ là vậy ! 


 7. Học đường

Học sinh tiểu học Mỹ chả có lý tưởng cao xa gì sất. 

Chúng không hề có ý định đi học để trở  thành ông này bà nọ trong chính quyền! Không hề có học đường nào dành cho chủ tịch, bí thư, ủy  viên tương lai,  như tôi đã từng thấy hồi còn nhỏ ở quê nhà. Các em không có bài tập về nhà. Bài tập về nhà kiểu như các học sinh như các học sinh Trung Quốc là khá xa lạ ở Mỹ. 

Trường học ở Mỹ  chú trọng đến đạo đức, trước hết để giúp cho các đứa trẻ trở nên những công dân có đủ tư cách  , sau đó mới tính đến chuyện lý tưởng lâu dài. Trở thành công dân có đủ tư cách ư ? Một quan niệm nghe mới cổ hủ làm sao !  


 8. Y tế

Người Mỹ làm lớn chuyện một cách kỳ cục khi có bệnh. 

Đầu tiên họ đi bác sĩ khám bệnh, rồi bác sĩ kê toa. Rồi cầm toa  đó đi mua thuốc, mua xong còn phải nghe dược sĩ hướng dẫn sử dụng …ôi chao  mọi việc chẳng thể nhanh gọn như ở Trung Quốc …Tôi chả hiểu tại sao ở Mỹ lại phân biệt việc khám bệnh với việc bán thuốc … mà lẽ ra nên tách rời  lợi nhuận với trách nhiệm ! 
Rõ ràng là các bệnh viện ở Hoa Kỳ không  biết kiếm tiền mà ! Sao lại phải nói tên thuốc cho bệnh nhân biết chứ ? … chỉ có như vậy họ mới độc quyền bán thuốc với giá  cao gấp cả chục lần cơ mà ! Có quá nhiều cơ hội làm ăn béo bở thế mà họ không biết khai thác , rõ ràng kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa ở Mỹ chết rồi ! 


 9.Báo chí

Ý kiến của công chúng Mỹ thật chả ra làm sao ! 

Đôi khi tôi hoàn toàn mất kiên nhẫn với sự ngu dốt và khờ khạo của người Mỹ . Chẳng hạn khi họ biết Trung Quốc có đài truyền hình và báo chí, họ đã hỏi tôi một câu ngu dốt như thế này : Hóa ra Trung Quốc cũng có báo chí à ? Nghe mà bực ! 

Chúng ta có những tờ báo tiếng Trung được Bộ Truyền Thông cho phép ấn hành sau khi đã rà soát một cách cẩn mật đấy chứ .  Báo của chúng ta toàn là những bài ca tụng lên mây cả, có đâu như báo Mỹ, công chúng đóng góp phê bình loạn cả lên, thậm chí còn dám “ chưởi ” cả tổng thống nữa cơ đấy!  
Báo chí chúng ta đâu có chuyện công khai mấy vụ bê bối của quan chức, bởi nếu cứ tung hê lên thì sau  này ai mà muốn làm lãnh đạo nữa chứ ! 


 10. Tâm linh

Người Mỹ có đời sống tinh thần hết sức vô vị nhạt nhẽo. 

Tôi chả hiểu tại sao trước mỗi bữa ăn họ lại lẩm bẩm mấy câu thánh nghe hết sức khờ khạo : Cầu Chúa phù hộ nước Mỹ. 

Thật là buồn cười quá đi  : Nếu Chúa phù hộ nước Mỹ thì làm sao lại để nước Mỹ lạc hậu, sơ khai, đơn giản đến thế này ? Cầu Chúa có ich lợi gì  chứ ? Thực tế nhất là bạn nên dành thời gian đó để đi lễ thủ trưởng ! 

Đó mới đúng là hiện đại chứ lỵ ! 


 11. Lối sống

Người Mỹ chả có khái niệm về thời gian .

Bất luận chuyện lớn chuyện nhỏ, người Mỹ đều ngoan ngoản đứng vào hàng chờ đợi … Còn người Trung Quốc chúng ta – như bạn biết đấy - khôn hơn nhiều ! 

Bất kể đám đông như thế nào, chúng ta vẫn có kỹ năng chen lấn, điều này giúp tiết kiệm thời gian, và tránh được sự mệt mõi khi đứng chờ !  Nếu ai đó biết đi cổng sau thì kết quả tiết kiệm thời gian còn tuyệt hơn nữa. 

Thế mà những người Mỹ lẩm cẩm lại không biết đến những điều hay ho đó cơ chứ ! 


 12. Mua bán


Những cửa hàng ở Mỹ có một phong cách buôn bán hết sức  vô lý : bạn có thể trả lại hàng vài tuần sau khi mua về mà thậm chí cũng không cần nêu lý do. Ở ta thì làm gì có chuyện cho đổi hàng mà không hò hét quát tháo nhau ra trò chứ ! 


 13. An toàn  

Nước Mỹ không an toàn ! Tôi nói điều này bởi có tới 95 % nhà dân không cần tới lưới chống trộm, và điều kỳ lạ này nữa là : chả biết mấy tên trộm đi đâu hết rồi nhỉ ?  


 14. Giao thông

Người Mỹ sao mà nhút nhát và yếu đuối quá vậy không biết ! 

Tôi nói điều này cũng bởi có tới 95 % tài xế không dám vượt đèn đỏ !'

Và mặc dầu 99 % dân Mỹ có xe hơi, vậy mà cách lái xe của họ thật lạ : bao nhiêu là xe cộ lưu thông nhưng không mấy khi nghe tiếng còi xe, phố xá vì thế vắng lặng đến nỗi cứ ngỡ không phải là phố xá nữa, làm sao mà bì được phố xá ồn ào náo nhiệt ở Trung Quốc cơ chứ !


15. Tình cảm

Người Mỹ rất là thiếu cảm xúc . 

Có tới 95 % nhân viên không nghĩ tới việc phải làm gì cho tiệc cưới của sếp, họ chẳng bao giờ phải vắt óc tìm ra lý do để chăm sóc sếp của mình. Ở Trung Quốc liệu có ai  điên đến mức bỏ qua cơ hội chăm sóc sếp của mình không?  Nói cách khác, có ai dám làm điều đó không ? Hãy xem, người Trung Quốc chúng ta có biết bao nhiêu là tình thương mến thương với lãnh đạo ! 

 16. Nhạy bén

Người Mỹ không nhạy bén chút nào ! 

 99% người Mỹ đi học, đi làm , thăng quan tiến chức, mà không hề biết sự cần thiết của “ phong bì ” để có thể mở ra một cánh cửa ..sau !  



Nguyễn Đại Hoàng chuyển ngữ

                 3/2013
------------

NGUYÊN TÁC


[ 'Foolish and Backward Nation': A Self-Effacing Chinese Satire of America


On the eve of U.S. Secretary of State Hillary Clinton's diplomatic visit to the Middle Kingdom, a tongue-in-cheek critique of Americans has gone viral on Sina Weibo, China's Twitter, with over 44,000 retweets and 5,400 comments. This piece, of uncertain author and origin, laughingly criticizes Americans as foolish, primitive, and naive. Lest American readers be offended, it soon becomes apparent that the essay is in fact a sharp, backhanded critique of China.Tea Leaf Nationhas translated the juiciest parts (which happen to constitute most of the essay). Please enjoy. ]

Don't Go to the U.S., A Foolish and Backward Nation

I've already been in the U.S. for a long time. I regret that choice. We've been [fooled] by Western media the whole time, making us think that the U.S. is a modernized country. Harboring hopes of studying American modern science in order to serve my motherland, I moved heaven and earth in order to make it over to this "superpower."  But the result has been very disappointing!  


 (1) The U.S. is actually a giant, undeveloped farming village. In middle school, teachers teach students that the more developed industry gets, the greater harm the natural environment suffers. For example, in an industrial city you should find chimneys everywhere, large factories everywhere, dust everywhere. That's the symbol of industrialization! But the U.S.? You hardly ever see chimneys, occasionally you'll see a few small ones but they're just decorations for houses. Instead there are clear rivers and lakes everywhere, and there aren't even paper factories or steel smelters by the riverbanks. The clean and fresh air is a symbol of primitive society. There's not even a trace of industrialization!
 

(2) Americans don't understand economics. Highways extend in all directions, seemingly reaching every village, but there are hardly any toll stations! What a tremendous waste of a gigantic business opportunity! I can barely keep myself from grabbing some cement and building a few toll stations; within one month I'll definitely make enough money to buy a house with a view of the Atlantic Ocean. Also, by the side of the highway you can see quiet and undeveloped lakes. The government allows waterbirds to freely settle and poop wherever they want, neglecting even to open a scenic garden with a lake view in order to make some serious money. It's clear Americans have no head for economics.


(3) American construction is too primitive. Besides [what you find in] a small number of large cities, there are no big cement and concrete skyscrapers. ... I can scarcely believe that the U.S. seemingly has no concrete buildings. They're all mostly made of wood and some other strange materials. Using primitive wood to build houses-it's like these foreigners' architecture hasn't moved beyond pre-Qing Dynasty times. That's feudal times!


 (4) Americans' thinking is naive and backwards. As soon as I got to the U.S., I found [renting] a luggage cart cost three U.S. dollars. I didn't have change, an American saw that I had a lot of luggage, so they paid the three bucks for me and brought me a cart. [Americans] also always open doors for me and ask me if I need help. In my country, we already had the Lei Feng period in the '50s and '60s, now we think that stuff is so backwards! [Lei Feng was a young man that the Mao-era Communist government widely touted as an example of selfless virtue.] Back then, people were very hypocritical, but now we're not that way. We do things nakedly; now that's modernization! So Americans' thinking is behind ours by several decades, and there are no signs they will be able to catch up. 


(5) Americans don't understand [how to eat] game. One night, I was driving with my classmates to another city and several Sika deers suddenly bounded out. My classmate immediately braked and swerved in order to avoid an accident. Apparently this sort of thing happens often, as a collision with one deer is enough to total a car. The U.S. government doesn't know how to manage this. ... Americans really don't understand how to eat game, they don't even have game restaurants, much less a taste for delicious wild animals-killing a deer and selling the antlers can make a lot of money! Americans live with those wild animals every day, even taking measures to protect wild animals. That's a really primitive society. 


(6) Americans don't understand self respect. Professors at American universities have no presence (架子); they don't have the air of distinguished scholars at all. It's said that Professor D___ is a famous professor of psychology, but during class breaks he eats cookies in his office with his students, talks about the movie "21″ and [Chinese actress] Ziyi Zhang. He doesn't have any of the majesty of scholarship, I was really disappointed. Also, post doctoral students never put "Ph.D" on their name cards. They don't even understand how to show off their status. People taught by professors like this won't even understand how to posture if they become government officials. ... It seems Chinese public servants really know how to get peoples' respect; even the boss in a minor office in my motherland is more imposing than the American President. No wonder they say a first-class citizen in China becomes a third-class citizen in the U.S.
 

(7) American elementary school students don't have lofty ideals. From the start, elementary school students don't have any intention of becoming officials. ... There are none of the class presidents, class secretaries, or the committees I had when I was young. After class, it's as if they have no homework. There's no way you can even mention it in the same breath with Chinese primary school students's homework. Schools place too much emphasis on a moral upbringing, making little kids focus on becoming qualified citizens first, getting to the long-term ideals later. Becoming a qualified citizen? What a corny concept. 


.(8) Americans cause a big ruckus every time they see a little illness. First, they make an appointment with the doctor, and afterwards the doctor gives a prescription. Some people have to consult a qualified pharmacist. When they buy medicine, they have to go to the supermarket to get it themselves. It's not as fast as it is with us ... I don't understand why Americans separate seeing the doctor and buying medicine ... instead separating benefit from responsibility. It's clear American hospitals have no concept of how to make money! Why tell the patients the name of the medicine? ... They could monopolize the sales of medicine and raise prices 8 or 10 times. There are so many good business [opportunities] they're not [pursuing], obviously the capitalist market economy is dead!  


(9) American public opinion is nuts. Sometimes I completely lose patience with their ignorance and foolishness. For example, when they learned that China has television stations and newspapers, they actually ignorantly ask me, "China has a newspaper?!" That's really outrageous; we not only have Chinese-language newspapers, they are meticulously produced by our Ministry of Propaganda; looking at our newspapers is like listening to a hymn, it's nothing like American newspapers with their messy public opinions, even daring to insult the U.S. President by name...[in China] we don't publicize the leaders' scandals; after that, who would want to be a leader? ... 


(10) Americans are spiritually empty. What I can't stand is: The majority of Americans say grace before each meal, and naively say "God bless America." Ridiculous; if God blessed America, how did America get this backwards, this primitive, how did Americans get so simple and primitive? What's the use of praising God? It would be more practical to spend that time praising your boss! That's the modern way! ... 


 (11) Americans do not have a concept of time. No matter what, they always wait in line. ... We Chinese are smarter, you see. No matter how crowded it gets, we still have the skill to stuff ourselves in somewhere, this saves a lot of time and you can avoid getting tired from standing! If someone you know opens a backdoor, that saves even more time. The old Americans just don't get this. 


(12) American stores make no sense: You can return something weeks after buying it without even giving a reason. How is it that you let me return the goods without even arguing with me for a little while? ... 


(13) The U.S. isn't safe. 95% of homes have forgotten to install anti-theft nets/doors/windows; another strange thing is, where'd all the pickpockets go? 


(14) Americans are wimps. 95% of drivers don't even dare to run red lights...although 99% of American adults have a car, their driving method is very strange: There are many cars on the road, but you can't hear any horns, the streets are so quiet it's as if they're not streets, there's none of the energy of a major province-level [Chinese] city. 


(15) Americans lack emotion. 95% of employees don't think their superiors' weddings have anything to do with them, so they never find an excuse to care about their leaders; in China, do the masses ever miss a chance to care about their leaders? Put another way, who in China doesn't dare to? Look how much feeling we've got. 


(16) Americans aren't sensible. 99% of Americans go through school, get jobs, get promoted, and get an operation without understanding the need to give "hong bao" [red envelopes full of cash] to open a back door. ...

PerfectShot là một ứng dụng chụp ảnh tập trung vào các tính năng giúp bạn cải thiện hình ảnh của bạn trước chứ không phải sau khi chúng được đưa ra.

    Nhà phát triển: Idea Matters
    Phiên bản: 1.0.3
    Ứng dụng cho android 2.2 trở lên
    Dung lượng 1M
PerfectShot v1.0.3 APK: ứng dụng chụp và chỉnh sửa ảnh tiện lợi cho android

PerfectShot v1.0.3 APK: ứng dụng chụp và chỉnh sửa ảnh tiện lợi cho android
PerfectShot đang được bán trên Google Play với giá 1.23 USD.

Download file APK cài đặt ung dung android PerfectShot hoàn toàn miễn phí tại:

UpFile.vn : Tải ngay

Hãy truy cập Taigameandroids.blogspot.com thường xuyên để cập nhật những game hay cho android các bạn nhé!

Đó là câu thơ trong bài thơ Tổ quốc nhìn từ biển của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến mà tôi đã nghe nhắc đến từ khá lâu rồi. Một bài thơ rất hay của một tấm lòng yêu nước, như bất kỳ người Việt nào khác.

Ngày mai là ngày 14/3, kỷ niệm 25 năm trận chiến Gạc Ma đau thương và anh dũng năm nào, xin chép lại bài thơ của anh NVC để tưởng nhớ các anh hùng đã ngã xuống cho Tổ quốc, và cám ơn nhà thơ đã nói giúp tình cảm của mọi người.
----------
TỔ QUỐC NHÌN TỪ BIỂN

Nguyễn Việt Chiến 
Nếu Tổ quốc đang bão giông từ biển
Có một phần máu thịt ở Hoàng Sa
Ngàn năm trước con theo cha xuống biển
Mẹ lên rừng thương nhớ mãi Trường Sa

Đất Tổ quốc khi chập chờn bóng giặc
Các con nằm thao thức phía Trường Sơn
Biển Tổ quốc chưa một ngày yên ả
Biển cần lao như áo mẹ bạc sờn

Nếu Tổ quốc hôm nay nhìn từ biển
Mẹ Âu Cơ hẳn không thể yên lòng
Sóng lớp lớp đè lên thềm lục địa
Trong hồn người có ngọn sóng nào không

Nếu Tổ quốc nhìn từ bao quần đảo
Lạc Long cha nay chưa thấy trở về
Lời cha dặn phải giữ từng thước đất
Máu xương này con cháu vẫn nhớ ghi

Đêm trằn trọc nỗi mưa nguồn chớp bể
Thương Lý Sơn đảo khuất giữa mây mù
Thương Cồn Cỏ gối đầu lên sóng dữ
Thương Hòn Mê bão tố phía âm u

Nếu Tổ quốc nhìn từ bao thương tích
Những đau thương trận mạc đã qua rồi
Bao dáng núi còn mang hình goá phụ
Vọng phu buồn vẫn dỗ trẻ, ru nôi

Nếu Tổ quốc nhìn từ bao hiểm họa
Đã mười lần giặc đến tự biển Đông
Những ngọn sóng hoá Bạch Đằng cảm tử
Lũ Thoát Hoan bạc tóc khiếp trống đồng

Thương đất nước trên ba ngàn hòn đảo
Suốt ngàn năm bóng giặc vẫn chập chờn
Máu đã đổ ở Trường Sa ngày ấy
Bạn tôi nằm dưới sóng mặn vùi thân

Nếu Tổ quốc neo mình đầu sóng cả
Những chàng trai ra đảo đã quên mình
Một sắc chỉ về Hoàng Sa thửa trước
Còn truyền đời con cháu mãi đinh ninh

Nếu Tổ quốc nhìn từ bao mất mát
Máu xương kia dằng dặc suốt ngàn đời
Hồn dân tộc ngàn năm không chịu khuất
Dáng con tàu vẫn hướng mãi ra khơi

Entry này thực ra là viết về chó, mặc dù cái tựa là "Trẻ em, phụ nữ, chó ..." (chứ không phải là "Nhật Bản, Philippines, Việt Nam và ... chó" như một tấm biển nào đó của một nhà hàng TQ nào đó đâu nhé). Còn tại sao có cái tựa như trên thì các bạn chịu khó đọc ở dưới đây sẽ rõ.

Năm 1989, lúc ấy tôi mới 29 tuổi, ra trường đi dạy được 6 năm và lấy chồng được 4 năm, con trai đầu mới được hơn 1 tuổi rưỡi, thì trời xui đất khiến thế nào tôi lại vớ ngay được một cơ hội đi sang Mỹ tu nghiệp 3 tháng tại ĐH Wisconsin - Madison.

Lúc ấy là lần đầu tiên tôi bước chân ra khỏi VN (mà ở VN thì tôi cũng chỉ quanh quẩn từ nhà đến trường - là cơ sở II của ĐH Tổng hợp, sau này thành trường ĐH KHXH-NV, vì tôi ra trường năm 83 thì ở lại trường mãi cho đến 20 năm sau mới ra khỏi nơi ấy khi được chuyển sang một vị trí công tác khác). Một nước VN nghèo đói, lạc hậu, vừa tang thương sau một cuộc nội chiến mấy chục năm thì chỉ vài năm lại rơi vào một cuộc chiến khác không kém phần khốc liệt, đồng thời cũng vì thế mà bị cấm vận nên kinh tế lại càng thê thảm. 

Vậy mà chuyến đi xa đầu tiên của tôi lại sang đến tận Mỹ, "sào huyệt" của bọn tư bản, bọn "sen đầm" quốc tế - thì đó là những gì tôi được dạy ở trường, và nghe được, đọc được từ truyền hình, truyền thanh, báo chí vv. Nên chi những gì tôi nghe được tận tai và nhìn được tận mắt đã gây ra được ấn tượng vô cùng sâu sắc với tôi, và nằm sâu trong trí nhớ dài hạn, chỉ cần có cái gì đó kích thích là nó lại được gợi ra rõ mồn một đối với tôi.

Và trong những điều gây ấn tượng với tôi nhiều nhất lúc ấy là câu nói mà một anh Việt kiều tôi quen về vị trí của người đàn ông trong xã hội Mỹ, một vị trí nằm ở tận dưới đáy xã hội theo thứ tự ưu tiên sau đây: Trẻ em, phụ nữ, chó, và đàn ông!

Ấn tượng thật chứ, vì ở VN (cũng như ở TQ, chắc thế, nếu xét từ câu viết có tính nhục mạ trên tấm biển ở một tiệm ăn mà tôi đã nhắc đến ở trên) thì có lẽ không con vật nào khổ hơn con chó. Thì Nguyễn Vĩ đã chẳng từng viết: "Nhà văn An Nam khổ như chó" rồi còn gì (mặc dù có người cho rằng nói thế xúc phạm con chó vì chó đâu đến nỗi khổ như nhà văn An Nam - thời ấy, tất nhiên rồi). Ngoài ta, một câu nói cửa miệng mà ta thường nghe là "ngu như chó", một câu mắng có lẽ mang tính xúc phạm nặng nhất đối với người VN.

Tất nhiên, cũng có người VN trân trọng con chó, và hình ảnh của con chó cũng đã được đưa vào văn học qua truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao với những lời lẽ và tình cảm hết sức trân trọng và cảm động. Nhưng rồi thì cũng vậy, con chó của Lão Hạc vì là chó VN nên vẫn cứ khổ như thường: nó bị chính chủ của nó lừa bán đi, bất chấp cái tình cảm trung thành và gắn bó sâu sắc của nó đối với chủ. Tất nhiên, chủ của nó - Lão Hạc tội nghiệp của chúng ta - cũng rất khổ, có lẽ còn khổ hơn chính con chó ấy, nhưng đó lại là một chuyện khác.

Tôi viết phần giới thiệu dài dòng này chẳng qua là để giới thiệu một bài viết khác do anh Nguyễn Đại Hoàng giới thiệu, "Bài diễn văn về con chó" bằng tiếng Anh mà anh vừa chuyển ngữ sang tiếng Việt. Các bạn đọc đi rồi mới hiểu tại sao khi đọc xong thì tôi nghĩ ngay đến cái thứ tự "Trẻ em, phụ nữ, chó ..." mà tôi đã dùng làm tựa của entry này. Cũng vậy, bài dịch của anh NĐH rất hay và tôi tin là đã được dịch rất đúng vì tính cẩn thận của anh bạn tôi, mặc dù tôi bận quá nên chưa đọc bản gốc tiếng Anh (có kèm theo dưới đây để các bạn đọc cho tiện). 

Đăng lên đây để chia sẻ với các bạn, để vừa giải trí vừa giới thiệu một bản dịch tốt, một áng văn hay, và còn giúp cho các bạn học hoặc ôn lại được một chút tiếng Anh, chìa khóa của sự thành công trong xã hội ngày nay, thông qua những trao đổi, tranh luận về các cách xử lý ngôn ngữ trong bản dịch chẳng hạn.

Nói thêm: bản dịch này cũng đã được đưa lên trang web của Golden Alliance, tại đây: http://www.gaspace.com.vn/Tin-Tuc/Tin-giao-duc/Bai-Dien-Van-Ve-Con-Cho.aspx. 

Enjoy các bạn nhé!
--------------------
BÀI DIỄN VĂN VỀ CON CHÓ

[ GA- NEWS ] – A tribute to the dog là bài diễn văn của luật sư George Graham Vest ( 1830 -1904) đọc tại phiên tòa xét xử vụ kiện người hàng xóm làm chết con chó của thân chủ ông. Phóng viên William Saller của tờ The Newyork Times cho rằng đó là một trong những bài bài diễn văn hay nhất trên thế giới trong khoảng 100 năm qua. GA- NEWS xin giới thiệu sau đây bản chuyển ngữ
của Nguyễn Đại Hoàng.

 
Kính thưa bồi thẩm đoàn,

Bạn tốt có thể thành kẻ thù. Con ngoan có thể thành nghịch tử. Người thân có thể thành phản trắc.


Tiền có thể rỗng không lúc ta cần kíp nhất. Danh có thể tiêu tan khi ta phạm sai lầm. Người xun xoe đưa đẩy lúc ta thành công có khi là kẻ xúc xiểm độc địa lúc ta thất bại.

Vậy mà chính trong cái thế giới vị kỷ đó, ta có một người bạn hoàn toàn vô vụ lợi, không bao giờ bỏ rơi, bội bạc ta, đó chính là con chó của ta !

Bất luận chủ sang, hèn, khỏe mạnh, ốm đau, chó vẫn luôn bên chủ. Mùa Đông rét mướt chó vẫn ngủ dưới nền đất lạnh, miễn được bên chủ. Nó dụi đầu vào tay chủ dù chẳng có thức ăn gì. Nó làm dịu đi thương tích và nỗi đau đớn mà chủ nó gặp phải từ cuộc mưu sinh trong thế giới gai góc này. Nó canh giấc ngủ cho người chủ tàn tạ của nó không khác gì canh giấc ngủ cho một ông hoàng.

Khi bạn bè chủ bỏ đi cả , con chó vẫn ở lại. Khi chủ tán gia bại sản, thân bại danh liệt , tình yêu của con chó với chủ vẫn sáng ngời như ánh thái dương. Khi chủ bị đời ruồng bỏ, không nhà cửa, không bạn bè, con chó vẫn bên chủ chống chọi kẻ thù và bất hạnh.

Rồi đến giây phút cuối cùng, khi chủ mất, thân xác vùi sâu trong đất lạnh, người tiễn đưa về hết, con chó cao quý ấy vẫn phủ phục bên mộ chủ, đầu gục xuống giữa hai chân, đôi mắt đau buồn vẫn mở to cảnh giác, con chó ấy vẫn trung thành cả khi chủ nhân đã đi vào cõi chết.

--------
A Tribute To The Dog
By George Graham Vest

Gentlemen of the jury:

The best friend a man has in the world may turn against him and become his enemy. His son or daughter that he has reared with loving care may prove ungrateful. Those who are nearest and dearest to us, those whom we trust with our happiness and our good name may become traitors to their faith. 


The money that a man has, he may lose. It flies away from him, perhaps when he needs it most. A man's reputation may be sacrificed in a moment of ill-considered action. The people who are prone to fall on their knees to do us honor when success is with us, may be the first to throw the stone of malice when failure settles its cloud upon our heads.

The one absolutely unselfish friend that man can have in this selfish world, the one that never deserts him, the one that never proves ungrateful or treacherous is his dog.

A man's dog stands by him in prosperity and in poverty, in health and in sickness. He will sleep on the cold ground, where the wintry winds blow and the snow drives fiercely, if only be may be near his master's side. He will kiss the hand that has no food to offer; he will lick the wounds and sores that come in encounter with the roughness of the world. He guards the sleep of his pauper master as if he were a prince.

When all other friends desert, he remains. When riches take wings, and reputation falls to pieces, he is as constant in his love as the sun in its journey through the heavens.

If fortune drives the master forth an outcast in the world, friendless and homeless, the faithful dog asks no higher privilege than that of accompanying him, to guard him against danger, to fight against his enemies.

And when the last scene of all comes, and death takes his master in its embrace and his body is laid away in the cold ground, no matter if all other friends pursue their way, there by the graveside will the noble dog be found, his head between his paws, his eyes sad, but open in alert watchfulness, faithful and true even in death.


Bài viết này tôi đã viết từ trước Tết, nay vừa được đăng trên tờ Lifestyle số Tháng 3/2013, có được biên tập lại đôi chút với tựa mới là "Chuyện dạy con bên Tây". Dưới đây là bản gốc mà tôi đã gửi đi. Những gì được kể trong câu chuyện này gần như là hoàn toàn có thật, chỉ đổi tên và hư cấu thêm vài tình tiết. Đăng lên đây để chia sẻ với các bạn.
-----------------

Tôi có một “đám” bạn già, nữ sinh Gia Long cũ, đến mấy chục người, tất cả đã “ngoại ngũ tuần”. Ra trường từ cuối thập niên 70 của thế kỷ trước, lưu lạc bốn phương mấy chục năm trời, tình cờ kết nối được với nhau nhờ facebook.

Cuối tuần qua bọn tôi vừa có dịp họp mặt nhân dịp có ba người bạn định cư ở nước ngoài (Canada, Mỹ và Úc) nay về Việt Nam nghỉ lễ Noel và năm mới. Chuyện Đông chuyện Tây, chuyện kim chuyện cổ, nhưng cuối cùng mọi con đường đều dẫn đến La Mã: các bà lại quay về chuyện chồng con. Và thế là chủ đề nuôi dạy con ở Tây bỗng biến thành chủ đề chính của cuộc họp mặt, với rất nhiều khám phá mới mẻ cho phe “quốc nội”.

Trước hết là chuyện học hành của con cái. Người Việt ở nước ngoài đa số học hành rất giỏi, và con cái các bạn tôi cũng vậy. Trong ba người bạn về VN lần này thì cả ba đều có thể được vinh danh về việc nuôi dạy con cái thành đạt chẳng kém Mẹ Hổ là mấy.

Phượng, bà bạn định cư ở Canada có hai người con, một cậu 26 tuổi và một cô 18 tuổi, cả hai đều học rất giỏi. Cậu con trai đã tốt nghiệp kỹ sư hóa dầu, đang làm việc cho một công ty lớn với mức lương khá cao ở một vị trí tốt. Cô con gái đang học lớp 12, học rất giỏi đang ráo riết học để chuẩn bị theo đuổi ngành Y.

Ngọc, bà bạn ở Mỹ có hai cậu con trai 24 và 21 tuổi cũng tương tự như vậy: Cậu lớn vừa tốt nghiệp đại học ngành Sinh học, đang được giữ lại trường để làm phụ tá nghiên cứu (research assistant) cho thầy của mình và dự định sẽ học tiếp để đi theo con đường nghiên cứu. Cậu thứ hai đang học năm thứ ba ngành Quản trị Kinh doanh tại cùng trường nơi cậu anh đang làm việc. Trước tình hình kinh tế không mấy sáng sủa trong mấy năm qua, cậu đang tính học thêm một bằng kỹ sư để ra trường dễ kiếm việc.

Dung, người bạn ở Úc thì vì lấy chồng trễ nên con còn nhỏ, chỉ mới đang học trung học, nhưng cũng thường xuyên là học sinh giỏi và được đủ loại giấy khen, từ giấy khen của hiệu trưởng nhà trường đến giấy khen của thị trưởng thành phố.

Con cái học hành giỏi giang là thế, nhưng cả ba bà bạn của tôi lại không cho rằng con mình là thành công mà xúm vào khen Danh, con trai của Huệ, một người bạn hiện đang sống ở Cali (Mỹ). Cậu tốt nghiệp đại học ngành Nhân học (anthropology) nhưng ra trường không kiếm được việc làm ngoài một loạt những công việc ngắn hạn với các tổ chức phi chính phủ.

Đi làm lai rai như vậy được 3 năm thì cậu quyết định thôi không theo đuổi ngành học đã chọn nữa mà tìm một cái nghề để kiếm sống, và chọn nghề … cắt tóc. Học xong các chứng chỉ cần thiết để hành nghề, Danh cùng một nhóm bạn cùng nhau mướn mặt bằng để mở tiệm cắt tóc. Ban đầu chỉ là một tiệm do chính mình vừa làm chủ vừa làm thợ, vậy mà chỉ sau 5 năm Danh đã sở hữu một chuỗi 3, 4 tiệm uốn tóc với những tay thợ lừng lẫy do cậu thu hút và đào tạo.

“Vậy mới là đáng nể chớ! Hiện nay, quan niệm về thành công của thế hệ trẻ ở nước ngoài thay đổi rất nhiều so với thế hệ của mình. Thành công không phải là học giỏi, có bằng cấp cao, việc làm ổn định. Mà thành công là biết mình là ai và muốn gì, biết tự khẳng định giá trị của bản thân, biết tự thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh. Đặc biệt, thành công là phải vượt qua được những khủng hoảng trong cuộc sống.” – Ngọc, bà bạn Việt kiều Mỹ cho biết.

“Bọn trẻ ở nước ngoài có suy nghĩ độc lập và trưởng thành quá ha! Nhưng dạy chúng chắc không dễ đâu hả? Mấy người bà con của mình ở nước ngoài sao thấy hay than thở về việc con cái không nghe lời cha mẹ quá.” Một bà bạn trong nước hỏi.

“Con cái không nghe lời, cái đó là tại mình. Nói không đúng thì nó không nghe. Chỉ cần nói cho đúng, có sức thuyết phục thì nó sẽ nghe thôi!” Dung cười đáp.

Câu trả lời của Dung làm tôi nhớ lại cuộc nói chuyện giữa người anh họ của tôi và cô con gái lớn của anh lúc tôi đang học Úc vào cuối thập niên 1990, cách đây đã mười lăm năm rồi. Lúc gia đình anh sang định cư ở Úc năm 1984,  cô con gái lớn của anh đã được tám tuổi, đang học lớp hai ở Việt Nam. Không muốn cho con cái bị “mất gốc”, gia đình anh chủ trương dùng hoàn toàn tiếng Việt ở nhà, vì vậy con cái anh đều nói sõi tiếng Việt. Khi tôi sang Úc học, cô bé con anh cũng đang học đại học năm thứ hai ở cùng trường với tôi. Hai dì cháu có nghe về nhau nhưng chưa hề gặp mặt. Vì vậy, khi tôi đến nhà thì cô bé dùng tiếng Anh để nói chuyện với tôi và bị bố rầy, bắt phải dùng tiếng Việt.

“But why do I have to speak Vietnamese? She speaks English very well,” cô bé thắc mắc (“she” ở đây chính là tôi).

“Vì ba muốn con nói tiếng Việt ở nhà”, anh họ tôi đáp.

“You know I can speak Vietnamese. But I am more comfortable with English. I am an Australian citizen anyway.”

“Con không được cãi ba. Ba muốn con nói tiếng Việt ở nhà vì con cần phải tập nói thường xuyên, nếu không con sẽ quên và nói không ai hiểu,” anh trừng mắt.

Cô bé không vừa. Cô trả lời cha bằng một tràng tiếng Việt: “Ba ơi, ở nhà lúc nào con cũng nói tiếng Việt với mẹ, ba biết mà. Còn ba, ba đi làm mà nói tiếng Anh dở ẹt không ai hiểu. Ba đã hứa với con là sẽ tập nói tiếng Anh với con để cho giỏi mà ba có bao giờ chịu nói đâu?”

Thấy tình hình căng thẳng, tôi phải can thiệp: “Anh ơi, em muốn nói tiếng Anh với cháu mà. I need more practice.”

Sau khi cô bé đi rồi, anh nói: “Trẻ con ở đây không phải bảo gì cũng nghe như ở Việt Nam đâu. Muốn cho chúng nó nghe thì chính mình phải có lý. Nhà trường đã dạy chúng như thế rồi. Mà như thế cũng phải, tại vì mình quen theo kiểu Việt Nam nên mới thế, chứ ở đây thì làm như vậy không được đâu.”

Nghe tôi kể lại câu chuyện trên, các bà bạn “quốc nội” chỉ biết lắc đầu: ở Việt Nam con mình mà cãi cha nó như vậy chắc … ăn đòn quá. Mới biết trẻ con ở Việt Nam ngoan thiệt, người lớn nói gì cũng nghe lời, không dám ho he gì hết.

“Nè, trẻ con Việt Nam có ngoan thiệt không đó?” Phượng, bà Việt kiều Canada bỗng lên tiếng. “Sao tui đọc báo thấy nữ sinh đánh bạn, lột áo rồi quay clip đưa lên mạng, tỉnh rụi; nam sinh thì cãi nhau rồi rút đao đâm bạn gọn hơ, sợ quá. Có phải tại bị người lớn xử ép, chỉ được nghe lời mà không được cãi, nên rồi sinh ra vậy không? Nếu vậy, tui thà chấp nhận để con cái cãi lại nếu mình không đúng, để mình muốn nói gì, yêu cầu gì cũng phải suy nghĩ kỹ. Chứ cứ phải nghe lời cha mẹ, thầy cô răm rắp như ở Việt Nam rồi bị ức chế thì lẳng lặng làm mấy trò như báo chí vẫn đăng thì nguy hiểm quá mấy bà ơi!”

Ờ há! Phải chăng đây chính là câu trả lời cho câu hỏi mà lâu nay báo chí Việt Nam vẫn thường đặt ra, là tại sao ngày càng có nhiều trẻ em hư?

Mẩu truyện về "Cô giáo và người học trò" qua phần chuyển ngữ của anh NĐH mà tôi đăng lên bloganhvu ngày hôm qua không ngờ đã được khá nhiều người quan tâm, không chỉ trong những vòng thân hữu của tôi và của anh NĐH, mà còn lan rộng ra ngoài rất nhiều nữa. Chẳng hiểu sự "hấp dẫn" của bài viết đó là do vốn câu truyện gốc đã rất hay, hay do phần chuyển ngữ của anh NĐH rất nhã, hoặc vì phần giới thiệu của tôi rất nhiệt tình, hay là tại phần bình luận, trao đổi về việc dịch từ "a lie" (lời nói dối) có thể giúp cho các bạn hiểu thêm một chút về tiếng Anh nữa, biết đâu. 

Hay là, thôi đúng rồi, tại vì tôi viết blog rất "duyên" (!), như anh GNLT, một thân hữu của tôi đã có lần có lời khen, đúng là thế chứ còn gì nữa! ;-)

Dù vì lý do nào đi nữa, thì cũng rất cám ơn anh NĐH đã cho tôi và bạn đọc của blog này được cơ hội đọc và trao đổi về một câu truyện rất cảm động về tình thầy trò, lại vừa có dịp trao đổi về việc dịch và về tiếng Anh nữa chứ. Và trên hết, là nó làm cho trang blog của tôi có thêm một giọng mới, nhẹ nhàng và nhiều cảm xúc hơn cái giọng điệu khi cà rỡn, tưng tửng, khi mỉa mai, châm chích, khi lạnh lùng, khô cứng của tôi. Rất cám ơn anh NĐH nhé.

Entry ngắn mà tôi gửi các bạn hôm nay cũng là của anh NĐH với lời phản hồi về lời bình luận của tôi về cách dịch từ "a lie" của anh mà tôi đã đăng lên hôm qua. Cũng vậy, ta sẽ thấy bao giờ anh NĐH cũng rất nhẹ nhàng, soft-spoken (he really is) - hơn tôi rất nhiều. Khiến tôi đôi khi cũng phải suy nghĩ một chút: mình là phụ nữ mà sao lại cứ thẳng thừng, đốp chát, chứ chẳng hề nhẹ nhàng gì cả như thế này? Nhưng mà nghĩ lại, giọng văn ranh mãnh, tinh quái của tôi đôi khi cũng ... rất hay, well, rất "duyên" như anh GNLT đã nói cơ mà, phải không các bạn? :-)

Đùa một chút với các bạn cho thêm chút vui vẻ vào buổi sáng chủ nhật thôi. Mời các bạn đọc phản hồi của anh NĐH dưới đây. Và nếu được, xin góp phần vào cuộc tranh luận này cho nó xôm tụ các bạn nhé!
------------------
PHẢN HỒI CỦA NGUYỄN ĐẠI HOÀNG về vụ “ A LIE ”

Kính thưa các bạn, phát hiện của cô PA về thủ pháp gây chú ý ngay câu mở đầu của tác giả - nữ văn sĩ Elizabeth Silance Ballard - quả là thú vị ! Đúng vậy tác giả đã dùng A LIE – một lời nói dối – để gây sốc, để gây tò mò cho độc giả - không biết chuyện gì đây ? Sao mà phải nói dối ? Đại loại như vậy. Và cô PA cũng đã đề nghị hai câu dịch đầu tiên và hỏi tôi có đồng ý không ? Xin trả lời : Đồng ý và cám ơn cô PA !

Nhưng cái băn khoăn của tôi là, với tư cách một nhà giáo thì khi cô Thompson tuyên bố cô thương yêu tất cả học trò lẽ nào câu nói ấy là hoàn toàn nói dối ? Đúng ra nếu không có sự xuất hiện của thằng Teddy Stoddard thì lời tuyên bố ấy có thể đã là sự thật. Sự xuất hiện của đứa học trò ấy khiến cho lời hứa hẹn với lớp của cô có nguy cơ thành không thể, thành bất khả thi ( impossible ). Bởi vì cô không có thiện cảm với em học sinh “ không sao ưa nổi ” đó. Vậy thì chỉ đối với em đó là cô không thực hiện đúng tuyên bố thôi. Còn mấy chục học sinh còn lại thì cô thương yêu được chứ ! Như vậy có thể nói là cô đã có lời hứa dối trá không ?

Thành thử có thể hiểu như thế này: Câu chuyện bắt đầu từ việc cô Thompson đã có một lời nói không thực bụng, thực lòng 100% trước học trò của mình trong ngày khai trường. [ Vì phải trừ đi phần x % không thể thương được thằng Teddy.] Về mặt số học, cô nói đúng ( 100 – x )% ! Chứ nói cô có lời dối trá với học trò thì quả là oan cho cô quá !

A LIE trong Tiếng Anh nhưng qua Tiếng Việt nên nhẹ đi một chút. Theo tôi là vậy.

Do vậy với câu :

Jean Thompson stood in front of her fifth-grade class on that first day of school in the Fall and told the children a lie.

Cô PA đã có một câu dịch hay, dường như cũng đã làm nhẹ đi phần nào nghĩa của chữ A LIE khi dịch là :

Đứng trước đám học trò lớp 5 của mình vào buổi học đầu tiên mùa Thu năm ấy, cô Jean Thompson biết rằng thực ra mình đang nói dối.

Nhưng tôi còn muốn “ thông cảm ” với cô giáo Jean Thompson hơn nữa, với câu dịch lúc 1g sáng đêm qua như thế này :

Mùa Thu năm đó, vào ngày đầu niên học mới, khi đứng trước đám học trò lớp 5 do cô phụ trách, cô Jean Thompson đã có một lời nói không hoàn toàn thực bụng !

Vâng tôi chỉ muốn nói là cô giáo Thompson của chúng ta chỉ không hoàn toàn thực bụng với tuyên bố của mình mà thôi.

Người ta nói 50 % của sự thật không phải là sự thật, nhưng trên 90% của sự thật thì sao ? Đương nhiên đó cũng không phải là sự thật, nhưng có thể gọi là cận sự thật chăng ? Có thể đó là trường hợp của cô Jean Thompson thưa các bạn.

Mà không chỉ có một mình cô giáo Jean Thompson phải chịu nỗi “ oan khiên ” này khi cô “ tới “ Việt Nam. Phải chăng cũng nên trách nữ văn sĩ Elizabeth Silance Ballard một chút khi trong tác phẩm The Teacher của mình – cô ấy đã hạ một chữ A LIE quá khó đối với văn hóa và xã hội Việt Nam – về nghề giáo ?

Xin cám ơn cô PA. Xin cám ơn quý vị.

Nguyễn Đại Hoàng

10/3/2013

Ghi chú : Bản dịch toàn bộ có một số sửa chữa nhỏ so với bản hôm qua. Các bạn có thể xem ở trang GASPACE.COM.VN – trong ngày mai.

Từ Điển Anh-Việt DioDict được biên soạn bởi nhà sáng tạo từ điển điện tử được ưa chuộng nhất Việt Nam – Lạc Việt. Chứa hơn 400.000 mục tra cứu và chuyển ngữ. Lý tưởng cho du khách cũng như những người thực sự muốn học tiếng Anh hoặc Việt không cần kết nối internet.

Những tính năng từ điển bao gồm:

    Từ điển Việt-Anh hai chiều với khoảng 400.000 mục tra cứu và chuyển ngữ.
    Một lượng lớn các câu ví dụ, thành ngữ và các cụm từ bằng cả tiếng Việt lẫn Anh.
    Chuyển ngữ nhiều cụm động từ tiếng Anh cũng như nhiều từ ghép bằng cả hai thứ tiếng.
    Kho từ vựng cập nhật từ ngôn ngữ văn chương đến kỹ thuật và lóng.
    Thông tin văn phạm phong phú bao gồm:
    Một phần bài nói với tất cả các từ đầu mục, ví dụ danh từ, tính từ, động từ.
    Những hình thái bất quy tắc của động từ và danh từ tiếng Anh, ví dụ buy –> bought, seek –> bought, ox –> oxen.
    Những khác biệt về địa lý giữa tiếng Anh của Mỹ và của Anh.
    Tất cả các từ tiếng Anh đầu mục đều được chú giải bằng cách phát âm theo bảng phát âm quốc tế IPA.

    Nhà phát triển: DIOTEK Co., Ltd
    Phiên bản 1.1.9
    Ứng dụng cho android 2.1 trở lên
    Dung lượng 51M
English–Vietnamese dictionary v1.1.9: Từ điển Anh-Việt, Việt-Anh full version cho android
English–Vietnamese dictionary đang được bán trên Google Play với giá 6.52 USD.

Download file APK cài đặt ung dung android English–Vietnamese dictionary hoàn toàn miễn phí tại:

UpFile.vn : Tải ngay

Hướng dẫn cài đặt:

Download về sẽ được 1 file DioDict3P.rar
Giải nén ra được 1 thư mục tên DioDict3P -> copy vào bộ nhớ máy hoặc thẻ nhớ.
Cài đặt file DioDict3.apk (biểu tượng màu xanh dương) trước.
Tiếp đến cài đặt file DioDict3_for_Android_Phone_BtoC.apk (biểu tượng màu nâu).
Sau khi cài xong, mở DioDict, bật 3g/wifi để check mạng, đợi 1 lát là xong.

Hãy truy cập Taigameandroids.blogspot.com thường xuyên để cập nhật những game hay cho android các bạn nhé!

Về đến nhà sau một ngày mệt mỏi vì phải dạy đến 8 tiếng vào một ngày cuối tuần, tôi nhận được thư của anh NĐH gửi tặng tôi một câu truyện do anh dịch mà theo anh là đọc xong thì sẽ thấy nhẹ nhàng ngay. Đó là câu truyện có tựa là The Teacher mà mấy ngày qua tôi đã thấy anh đề cập đến với chút băn khoăn vì những bản dịch mà anh có trong tay đều không làm anh hài lòng, do - theo lời của anh - nó đã hỏng ngay từ câu đầu tiên.

Và thế là anh bạn NĐH của chúng ta đã bỏ công dịch lại, với một thứ tiếng Việt trau chuốt, nhuần nhuyễn khiến tôi sau khi đọc xong thì cảm thấy thật dễ chịu, thấy lòng nhẹ nhõm và có niềm tin nhiều hơn vào sự cao quý và quan trọng của nghề thầy giáo mà hiện nay ai cũng cảm thấy rằng đã quá "xuống cấp" trong xã hội VN. Đăng lên đây để chia sẻ với các bạn, như thắp lên một ngọn nến nhỏ để cùng xua đi màn đêm, thay vì ngồi nguyền rủa bóng tối. 

Nói thêm: bản dịch của anh NĐH cũng đã được giới thiệu trên trang tin tức của Golden Alliance, ở đây: http://www.gaspace.com.vn/Tin-Tuc/Tin-giao-duc/The-Teacher.aspx. Ở đó cũng có một vài bài viết/dịch khác của anh NĐH, các bạn có thể vào đó đọc nếu thích phong cách của anh ấy nhé.
-------------
The Teacher

by Elizabeth Silance Ballard

Nguyễn Đại Hoàng chuyển ngữ

[ GA – NEWS ] – Đây là một câu chuyện về tình Thầy Trò rất cảm động. Nguyên tác The Teacher của tác giả Elizabeth Siliance Ballard được đăng lần đầu tiên trên tạp chí Home Life các đây đã 37 năm. Chuyện ngắn này nhanh chóng trở nên nổi tiếng trên khắp thế giới. Ở Việt Nam cũng có hàng trăm bản dịch, tuy nhiên điều đáng tiếc là có rất ít bản dịch tốt. Nhằm đáp ứng nhu cầu tham khảo của quý vị độc giả và đặc biệt là các học viên Tiếng Anh, GA – NEWS xin giới thiệu sau đây bản chuyển ngữ của dịch giả Nguyễn Đại Hoàng – một bản dịch hy vọng sẽ chuyển tải được tinh thần và cốt cách của nguyên tác, với một văn phong giản dị. Rất mong nhận được sự góp ý của bạn đọc để bản dịch được tốt hơn.

---------
Cô giáo & Người học trò

 
Mùa Thu năm đó, vào ngày đầu niên học, cô Jean Thompson đứng trước lớp 5 do cô phụ trách và phát biểu dăm ba câu chiếu lệ.

Và cô cũng làm điều mà các thầy cô giáo thường làm trong những dịp như vậy, cô nhìn xuống lớp học và nói rằng cô sẽ yêu thương và đối xử công bằng với tất cả học sinh.

Nhưng cô kịp nhận ra điều mình vừa hứa hẹn có lẽ là bất khả thi, bởi ngay trước mắt cô, ngồi thu lu ở dãy bàn thứ ba – là thằng Teddy Stoddard !

Ai chứ cái thằng Teddy thì cô đã biết đến nó từ hồi năm ngoái, đó là một đứa gần như sống tách biệt với mọi người, chẳng chơi với ai, chẳng ai chơi với, áo quần lôi thôi lếch thếch chả ra làm sao, còn người ngợm thì rõ ràng rất cần được tắm gội thường xuyên !

Nói chung là một đứa không sao ưa nổi !

Không biết có phải vì ấn tượng không mấy dễ chịu này không mà trong suốt mấy tháng đầu năm học đó cứ gặp bài của thằng nhỏ là cô – với một cây viết đỏ lớn - thẳng tay đánh vào đó những dấu X , và cũng không ngại ngần gì khi hạ một chữ F vào bên trên tờ giấy ! ( 1 )

Vì Teddy luôn cáu kỉnh rầu rỉ nên dường như cũng chả có ai thèm quan tâm đến nó. Cô Thompson cũng thế, theo yêu cầu của nhà trường nơi cô đang dạy, lẽ ra ngay từ đầu năm học cô phải xem lại thành tích biểu các năm trước của từng đứa học trò, nhưng cô đã xếp xó hồ sơ của Teddy, lần lữa mãi cuối cùng cô mới coi tới. Thành thử cho đến khi mở ra cô mới thấy bối rối ngạc nhiên với hồ sơ của đứa học trò này.

Giáo viên lớp một phê rằng : “ Teddy là một học sinh ham hiểu biết, thông minh, và hay cười. Làm việc gì cũng gọn gàng, tươm tất. Em là niềm vui của người xung quanh ”.

Giáo viên lớp hai viết như thế này : “ Teddy là một học sinh rất xuất sắc, được bạn bè yêu mến, nhưng em đang gặp khó vì mẹ em mắc bệnh hiểm nghèo, và cuộc sống gia đình hẳn là rất chật vật ”

Giáo viên lớp ba ghi nhận : “ Teddy vẫn chăm học nhưng cái chết của người mẹ quả là khắc nghiệt với em. Em đã rất cố gắng nhưng người cha lại vô tâm, nếu cứ đà này thì sớm muộn gì chuyện nhà cũng sẽ ảnh hưởng không tốt đến việc học hành của em ”

Giáo viên lớp bốn phàn nàn rằng : “ Teddy chán nản và chểnh mãng chuyện học hành. Em không có mấy bạn bè, và thường ngủ gục trong lớp. Sự sa sút của em có thể sẽ còn tồi tệ hơn ! ”

Cho đến lúc đó, có lẽ cô Thompson đã nhìn ra toàn bộ vấn đề, nhưng Giáng Sinh đang đến sát một bên. Thành thử từ đó cho đến ngày lễ, tưởng đâu những gì cô có thể làm là tập trung chuẩn bị cho chương trình văn nghệ ở trường, thế nhưng cũng chính trong thời gian đó, một lần nữa, cô buộc phải chú ý đến Teddy Stoddard.

Chuyện là nhân dịp lễ, tụi học trò đem đến lớp tặng cô những món quà, tất cả đều được gói bằng những tờ giấy bóng kiếng lấp lánh và với những dải ruy-băng xinh xắn, chỉ trừ món quà của thằng Teddy là bọc vụng về trong một tờ giấy nâu thô cứng có vẻ như được cắt ra từ một cái túi đựng đồ tạp hóa nào đó.

Và giữa hàng dãy tặng phẩm đẹp đẽ sáng láng của bọn học trò, cô Thompson không khỏi xót xa khi mở cái gọi là “ quà ” của Teddy. Một số đứa đã cười phá lên khi cô lấy ra một vòng đeo tay giả kim cương đã mất đi một số hột đá, và một lọ nước hoa chỉ còn góc tư. Nhưng cô đã khiến cho những tiếng cười nhạo im bặt khi cô khen chiếc vòng đeo mới đẹp làm sao, cô đeo nó vào tay, và thoa một ít nước hoa lên cổ tay.

Và cái thằng Teddy tội nghiệp ấy đã nấn ná ở lại sau cùng để nói với cô như thế này :

“Cô ơi, hôm nay cô thơm như mẹ con hồi xưa vậy đó ! ”

Khi bọn học trò đã về hết, cô ngồi xuống và khóc cả giờ đồng hồ. Rồi từ ngày ấy trở đi, không chỉ là dạy các môn đọc, viết, và nói, cô thực sự bắt đầu dạy dỗ bọn trẻ. Tất nhiên là cô đặc biệt quan tâm đến Teddy. Cô khích lệ càng nhiều thì trò Teddy tiến bộ càng nhanh ! Và hồi đó vào những buổi kiểm tra quan trọng, cô Thompson đã không quên một chút nước hoa !

Vào cuối năm học, cậu bé đã trở thành một trong những học sinh tiến bộ nhất lớp, có thể nói là cậu đã trở thành “ học trò cưng ” của cô giáo – người có lần đã thề rằng sẽ yêu thương tất cả học trò như nhau !

Một năm sau, ở bục cửa nhà mình, cô thấy một mẫu giấy của Teddy, cậu nói rằng trong tất cả thầy cô giáo dạy tiểu học, cô là người thầy tuyệt vời nhất.

Sáu năm sau cô lại thấy một mảnh giấy khác của Teddy. Cậu nói rằng cậu đã tốt nghiệp trung học ở vị trí thứ ba trong lớp, và đối với cậu, trong mọi lúc, cô vẫn là người thầy tuyệt vời nhất.

Bốn năm sau, cô nhận được một lá thư khác của Teddy, cậu nói rằng cho dù trong đời nhiều lúc gặp khó khăn bế tắc, cậu vẫn theo đuổi sự học, và đã tốt nghiệp thủ khoa đại học. Cậu nói rằng cô Thompson vẫn là người thầy tuyệt vời nhất.

Bốn năm nữa trôi qua, và lại một lá thư nữa được gởi đến cô. Lần này cậu nói rằng sau khi đỗ cử nhân, cậu đã quyết định học lên. Lá thư cũng nói rằng cô giáo vẫn là người thầy tuyệt vời nhất, nhưng có một chi tiết là bây giờ tên của của cậu đã dài hơn, với giòng chữ được ghi như thế này : Theodore F. Stoddard, Bác Sỹ Y Khoa.

Thế nhưng câu chuyện chưa dừng lại ở đây. Bởi trong một bức thư gởi tới vào mùa Xuân Teddy kể rằng cậu đã gặp gỡ một cô gái và họ sắp kết hôn.Cậu nói rằng cha cậu đã mất một vài năm trước, cậu hỏi rằng liệu cô Thompson có vui lòng ngồi vào hàng ghế vốn chỉ dành riêng cho thân mẫu chú rễ hay không.

Và vào cái ngày đặc biệt đó, cô Jean Thompson lại đeo cái vòng tay cũ khuyết hạt, và cô lại xức thứ nước hoa cũ mà năm xưa tại kỳ họp lớp trong mùa Giáng Sinh cuối cùng cô đã dùng – chính là cái mùi thơm đã làm cho cậu bé Teddy nhớ mẹ.

Hai người ôm choàng lấy nhau, và BS. Stoddard thì thầm với cô Thompson như thế này : “ Thưa cô, con cám ơn cô đã đặt niềm tin vào con. Cám ơn cô vô cùng vì cô đã làm cho con thấy được giá trị của mình, làm cho con biết rằng con có thể làm nên điều khác biệt ”.

Nước mắt rưng rưng, cô Thompson khẽ đáp : “Teddy à, con nói sai hết rồi ! Con mới là người đã dạy ta rằng ta có thể làm nên điều khác biệt đấy chứ ! Thực sự là ta đã không biết dạy là như thế nào cho đến ngày ta gặp con ! ”

NGUYỄN ĐẠI HOÀNG chuyển ngữ

3/2013

( 1 ) : X = dấu gạch chéo chỉ những điểm sai trong bài làm của học sinh. F = điểm kém.
---------------
Bản gốc tiếng Anh

The Teacher

by Elizabeth Silance Ballard
This story first appeared in the March 1976 issue of Home Life magazine.

Jean Thompson stood in front of her fifth-grade class on that first day of school in the Fall and told the children a lie.
Like most teachers, she looked at her pupils, saying she loved each of them the same, that she would treat them all alike. But that was impossible for there in front of her, slumped in his third row seat, was a little boy named Teddy Stoddard.

Mrs. Thompson had watched Teddy the year before and noticed he didn’t play well with the other children, that his clothes were unkempt and that he constantly needed a bath. And Teddy was unpleasant. It got to the point during the first few months that she would actually take delight in marking his papers with a broad red pen, making bold X’s and then highlighting the "F" at the top of the paper.

Because Teddy was a sullen little boy, no one else seemed to enjoy him either. At the school where Mrs. Thompson taught, she was required to review each child’s records and delayed Teddy’s until last. She opened his file, and found a surprise.

His first-grade teacher had written, and I quote, "Teddy is a bright, inquisitive child with a ready laugh. He does his work neatly and has good manners. He is a joy to be around."

His second-grade teacher had penned, "Teddy is an excellent student, well-liked by all his classmates, but he is troubled because his mother has a terminal illness and life at home must be a struggle."

His third-grade teacher had noted, "Teddy continues to work hard but his mother’s death has been hard on him. He tries to do his best but his father doesn’t show much interest and his home life will soon affect him if some steps aren’t taken."

Teddy’s fourth-grade teacher had commented, "Teddy is withdrawn and doesn’t show much interest in school. He doesn’t have many friends and often falls asleep in class. He is tardy and could become a more serious problem."

By now Mrs. Thompson realized the extent of the problem, but Christmas was coming fast. It was all she could do, with the school play and all, until the day before the holidays began and she was suddenly forced to focus again on Teddy Stoddard.

Her children brought her presents, all in beautiful ribbon and bright paper, except Teddy’s, which was clumsily wrapped in the heavy, brown paper of a scissored grocery bag.

Mrs. Thompson took pains to open it in the middle of the other presents. Some of the children started to laugh when she found a rhinestone bracelet with some of the stones missing, and a bottle that was one-quarter full of cologne. She stifled the children’s laughter as she exclaimed how pretty the bracelet was, putting it on, and dabbing some of the perfume behind her wrist.

Teddy Stoddard stayed behind after class just long enough to say, "Mrs. Thompson, today you smelled just like my mom used to."

After the children left, she cried for at least an hour. On that very day, she quit teaching Reading, Writing, and Speaking. Instead, she began to teach Children. Jean Thompson paid very particular attention to one they all called "Teddy." As she worked with him, his mind seemed to come alive. The more she encouraged him, the faster he responded. On the days when there would be an important test, Mrs. Thompson would remember that cologne.

By the end of the year he had become one of the highest achieving children in the class and, well, he had also somewhat become, the "pet" of that teacher who had once vowed to love all of her children exactly the same.

 
A year later, she found a note under her door from Teddy, telling her that of all the teachers he’d had in elementary school, she was his favorite.

Six years went by before she got another note from Teddy. He then wrote that he had finished high school, third in his class, and she was still his favorite teacher of all time.

Four years later, she got another letter, saying that while things had been tough at times, he’d stayed in school, had stuck with it, and would graduate from college with the highest of honors. He assured Mrs. Thompson she was still his favorite teacher.

Four more years passed and yet another letter came. This time he explained that after he got his bachelor’s degree, he decided to go a little further. The letter explained that she was still his favorite teacher but that now, his name was a little longer. The letter was signed, Theodore F. Stoddard, M.D.

The story doesn’t end there. For there was yet another letter that spring. Teddy said he’d met this girl and was to be married. He explained that his father had died a couple of years ago and he was wondering if Mrs.Thompson might agree to sit in the pew usually reserved for the mother of the groom.

And on that special day, Jean Thompson wore that bracelet, the one with the rhinestones missing. And on that special day, Jean Thompson smelled the way Teddy remembered his mother smelling on their last Christmas together.

They hugged each other, and Dr. Stoddard whispered in Mrs. Thompson’s ear, "Thank you Mrs. Thompson for believing in me. Thank you so much for making me feel important and showing me that I could make a difference."

Mrs. Thompson, with tears in her eyes, whispered back. She said, "Teddy, you have it all wrong. You were the one who taught me that I could make a difference. I didn’t know how to teach until I met you."

© 2001-2012 Literacy Connections. All rights reserved.

-----------
Bình luận thêm về bản dịch:

Bản dịch của anh NĐH là một ví dụ của một bản dịch "nhã" (tiêu chuẩn quan trọng vào bậc nhất trong 3 tiêu chuẩn của một bản dịch tốt, đó là "tín, đạt, và nhã"). Tuy nhiên, nếu ai chọn tiêu chuẩn "tín" để đánh giá thì có thể chưa đồng ý khi thấy anh NĐH đã dịch từ "a lie" trong câu đầu tiên ra thành cụm từ "những lời chiếu lệ" (tôi đã tô màu đỏ cả bản dịch lẫn bản gốc để các bạn dễ theo dõi), vì nó có vẻ hơi xa với nghĩa từ "lie" trong tiếng Anh.

Nhưng trước hết, phải nói ngay rằng câu đầu tiên này có lẽ là câu khó dịch nhất trong toàn bài, dù xét từng chữ thì cả câu không có một từ nào khó cả, tất cả chỉ nằm trong phạm vi 1000 từ thông dụng nhất. Ngữ pháp của câu cũng rất đơn giản vì nó là một câu đơn với chỉ một mệnh đề.

Vậy thì tại sao nó lại khó dịch? Những bản dịch mà anh NĐH có trong tay dịch câu đầu tiên ra một cách đơn giản, từ-đối-từ đại loại như thế này:

Jean Thompson stood in front of her fifth-grade class on that first day of school in the Fall and told the children a lie. 


Jean Thompson đứng trước lớp 5 của cô vào ngày đầu năm học mùa thu năm ấy và nói với các học sinh những lời nói dối. 

Quả thật, mặc dù không khó tính và đòi hỏi cao như anh NĐH, nhưng tôi cũng đồng ý là dịch như trên quả là không đạt. Anh NĐH đã chuyển sang tiếng Việt câu tiếng Anh trên như sau:

Mùa Thu năm đó, vào ngày đầu niên học, cô Jean Thompson đứng trước lớp 5 do cô phụ trách và phát biểu dăm ba câu chiếu lệ.

Câu tiếng Việt của anh NĐH thật trôi chảy và tự nhiên, trước hết là vì anh đã đảo phần trạng ngữ chỉ thời gian lên đầu cho đúng với phong cách viết của tiếng Việt. Và đặc biệt, anh đã đổi từ "a lie" từ "những lời nói dối" thành ra "dăm ba câu chiếu lệ". Một cách xử lý sáng tạo, và từ tương đương trong tiếng Việt mà anh lựa chọn để chuyển dịch quả không tồi vì vẫn có nét nghĩa của sự không thật (lie) ở trong đó, mà lại không thô thiển như câu dịch trên.

Nhưng đọc xong toàn bài thì tôi lại thấy từ "a lie" trong câu nói trên thực sự cần phải dịch là "lời nói dối" chứ không phải là cái gì khác, thì mới chuyên chở được ý tứ của bài văn. Bởi vì, khi đứng phát biểu trước lớp rằng sẽ thương yêu các em đồng đều như nhau, thì kìa, ngay sờ sờ trước mặt cô ở hàng thứ ba là một thằng bé có tên là Teddy mà cô biết cô không thể nào thương nổi. Vì cô đã để ý đến nó và có thành kiến xấu với cậu bé này ngay từ năm ngoái, khi nó còn học lớp 4.

Nói cách khác, từ "a lie" khó dịch không phải vì nó có nghĩa đặc biệt gì cả, mà vì lối hành văn cố tình gây shock của tác giả để tạo một hiệu ứng đặc biệt. Ai có thể chấp nhận được một cô giáo đứng trước học trò tiểu học mà lại thản nhiên thốt ra những lời nói dối như cô Thompson vậy?

Việc tác giả ngắt đoạn ở ngay cuối câu, khiến đoạn văn đầu tiên chỉ có đúng một câu với một sự kiện như trời giáng (cô Thompson đứng nói dối trước học trò) làm ta lúng túng, vì chưa thấy đoạn văn này có gắn kết với ý tưởng nào ở trong bài cả. Và nếu chúng ta chỉ dừng lại tìm kiếm ý nghĩa của từ "a lie" thì rõ ràng không có manh mối nào để giải thích tại sao cô giáo lại nói dối, nên cách xử lý của anh NĐH đã là rất "đắt" rồi.

Thực ra, sự liên kết ý tưởng giữa đoạn đầu tiên  (lời nói dối của cô Thompson) với toàn bài văn đã nằm ngay ở đoạn tiếp theo, với một hàm ý rất hay mà phải đọc hết truyện ta mới vỡ lẽ ra: Thì ra cô Thompson của chúng ta là một người có lương tâm chức nghiệp; chính lương tâm này đã khiến cho cô cảm thấy áy náy và tự trách thầm là mình đang nói dối bọn trẻ khi cô biết rằng cô sẽ khó lòng thực hiện được lời hứa của mình là sẽ thương yêu các em đồng đều. Ý  tự trách này được lập lại ở giữa bài khi cậu bé Teddy trở thành học trò cưng của cô - vâng, chính cô, người đã từng đứng trước học trò mà thề thốt rằng cô sẽ yêu thương tất cả các em ai cũng như ai! (Xin xem phần tôi tô màu cam ở giữa bài).

Quả là tuyệt bút, thực vậy. Rất ít lời, không bình luận, ngôn ngữ mộc mạc đơn giản, mà chỉ bằng thủ pháp sắp xếp các sự kiện cạnh nhau, cùng việc ngắt câu, ngắt đoạn độc đáo, tạo sự bất ngờ, chúng ta đã có một câu truyện thật thú vị.

Xin mạn phép anh NĐH cho tôi thử xử lý lại 2 đoạn đầu tiên nhé:

Jean Thompson stood in front of her fifth-grade class on that first day of school in the Fall and told the children a lie.

Like most teachers, she looked at her pupils, saying she loved each of them the same, that she would treat them all alike. But that was impossible for there in front of her, slumped in his third row seat, was a little boy named Teddy Stoddard.


Đứng trước đám học trò lớp 5 của mình vào buổi học đầu tiên mùa Thu năm ấy, cô Jean Thompson biết rằng thực ra mình đang nói dối. 

Như bất cứ giáo viên nào cũng làm trong ngày đầu năm, cô đưa mắt nhìn các em và hứa sẽ yêu thương và đối xử công bằng với tất cả, ai cũng như ai. Nhưng cô biết cô sẽ chẳng thể làm được điều này vì lù lù ngay trước mặt cô ở hàng thứ ba không ai khác hơn là chính thằng bé có tên là Teddy Stoddard.

Dịch như vậy có được không, anh NĐH ơi?

À quên nữa, có ai thấy bản tiếng Anh chỉ là "The Teacher" mà anh NĐH lại dịch là "Cô giáo và người học trò"  (thêm mấy từ "và người học trò") không? Lại là một cách xử lý sáng tạo nữa, lần này dù cũng không "tín" - theo nghĩa là bám sát bản gốc, nhưng theo tôi bản dịch vì thế lại "đạt" hơn và cũng "nhã" hơn nữa.
 

Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.