Latest Post

Blog này chuyên cung cấp các tài liệu miễn phí cho các bạn cần. Hãy click vào baner quảng cáo để ủng hộ mình nhé !

Kỳ 3 ở đây: http://bloganhvu.blogspot.com/2013/11/con-gai-con-trai-alice-munro-pa-dich-ky_9122.html
----------

Tôi quên chưa kể những con cáo được cho ăn như thế nào. Tôi nhớ đến việc này khi thấy cái tạp dề bê bết máu của cha tôi. Người ta cho cáo ăn thịt ngựa. Thời ấy nông dân vẫn còn dùng ngựa, và khi một con ngựa đã quá già không còn làm việc được nữa, hoặc khi con ngựa bị què hoặc gục xuống không đứng nổi nữa, như thỉnh thoảng vẫn thế,  chủ của nó sẽ gọi cha tôi, và ông cùng chú Henry sẽ đánh chiếc xe tải đến trang trại đó. Thông thường, cha tôi và chú Henry sẽ bắn chết và làm thịt con ngựa ngay tại trang trại, và trả cho chủ của nó từ 5 đến 12 đô la. Nhưng nếu ở nhà đã có quá nhiều thịt, họ sẽ mang con ngựa sống trở về, nuôi nó thêm một vài ngày hoặc vài tuần trong chuồng ngựa của chúng tôi, cho đến khi cần phải giết con ngựa để lấy thịt. Sau chiến tranh, người nông dân mua máy kéo và dần dần họ bán hết những con ngựa vì chúng chẳng còn có ích vào bất cứ việc gì nữa. Nếu họ bán ngựa cho cha tôi vào mùa đông thì ông sẽ  nuôi những con ngựa ấy trong chuồng cho đến mùa xuân , vì chúng tôi có khá nhiều cỏ khô; vả lại, nếu như năm ấy trời tuyết dày mà máy  cày không phải  lúc nào cũng giúp chúng tôi dọn sạch tuyết trên đường đi, thì dùng ngựa để đi lên thị trấn cũng khá thuận tiện.

Mùa đông năm tôi mười một tuổi, cha tôi có hai con ngựa trong chuồng. Chúng tôi không biết chủ cũ đã gọi chúng là gì, nhưng chúng tôi đặt tên cho chúng là Mack và Flora. Mack là một con ngựa kéo xe già có bộ lông đen xỉn như bồ hóng và dáng điệu thờ ơ. Còn Flora là con ngựa cái có bộ lông màu nâu đỏ, là một con ngựa cưỡi. Chúng tôi dùng cả hai con này để kéo chiếc máy cắt. Mack thì chậm chạp và dễ điều khiển, còn Flora là một con ngựa chứng, thỉnh thoảng lại lồng lên, chồm sang những chiếc xe hơi và cả những con ngựa khác, nhưng chúng  tôi vẫn thích nó vì nó chạy nhanh, bước sải, và vì nó có cái dáng vẻ lịch thiệp và bất cần. Vào những ngày thứ Bảy, chúng tôi thường xuống chuồng ngựa và khi chúng tôi vừa bước vào cái chuồng tối tăm và đầy mùi ngựa thì ngay lập tức con Flora ngẩng đầu lên, mắt long xòng xọc, hí lên ầm ĩ tuyệt vọng, và lên cơn ngay tại chỗ. Không ai dám đến gần chỗ buộc Flora vì chắc chắn sẽ bị nó đá.
    
Mùa đông năm ấy tôi cũng bắt đầu nghe mẹ tôi nhắc nhiều hơn về chủ đề mẹ tôi đã bắt đầu trước cửa chuồng cáo hôm trước. Tôi bắt đầu cảm thấy lo lắng. Dường như trong đầu mọi người đã có sẵn một ý tưởng rõ ràng và dứt khoát không chệch hướng về chủ đề này. Từ “con gái” trước đây đối với tôi là một từ rất bình thường không ẩn ý và hồn nhiên như một đứa trẻ, nhưng giờ đây nó không còn như vậy nữa. Một cô gái không phải là cái giống như tôi đang là, mà phải là một cái gì đó tôi sẽ phải trở thành. Nó là một định nghĩa, luôn được nhấn mạnh, kèm những lời chỉ trích và thất vọng. Nó cũng là một cái gì đó được dùng để trêu chọc tôi. Có một lần tôi với Laird vật lộn với nhau, và đó là lần đầu tiên tôi đã phải dùng hết sức bình sinh để đánh lại nó; thế mà tôi vẫn bị nó nắm chặt cánh tay khiến tôi rất đau và không còn vùng vẫy được nữa. Chú Henry đã chứng kiến cảnh này; chú cười to, nói: "Ồ, rồi có ngày Laird cho mày biết tay đấy cháu à, sớm thôi!”Quả là thằng Laird lớn lên nhanh quá. Nhưng chính tôi cũng đã lớn hơn trước.

Lúc bà tôi đến thăm và ở lại chơi với chúng tôi mấy hôm; tôi lại được dịp nghe những lời dậy dỗ khác. "Con gái không đóng cửa ầm ầm như thế." "Con gái ngồi phải khép chân lại chứ.” Và tệ hơn nữa là khi tôi hỏi một câu hỏi gì đó, thì nhận được ngay câu trả lời là “Việc ấy không phải của con gái.” Tôi cố ương ngạnh vẫn đóng sầm cửa khi ra vào và cứ ngồi thoải mái không khép nép, nghĩ rằng bằng cách đó tôi sẽ giữ được sự tự do của mình.

 Khi mùa xuân đến, mấy con ngựa được thả ra sân nuôi gà vịt. Mack đứng sát tường nhà kho, cố cọ cọ mình vào tường để gãi cổ và gãi chân, nhưng Flora thì chạy lung tung, đá chân vào hàng rào, những cái móng guốc của nó gõ lóc cóc trên đường. Những mảng tuyết của mùa đông đang nhanh chóng tan đi, để lộ lớp đất cứng màu nâu và xám, cánh đồng nhấp nhô trông thô thô và trơ trụi, không còn cảnh tuyết phủ trắng lấp lánh tuyệt vời của mùa đông. Thời tiết đầu xuân cho ta cái cảmgiác rộng mở và được giải thoát. Lúc này chúng tôi đã cởi bỏ những đôi ủng nặng nề của mùa đông mà chỉ còn đi dép cao su, và cảm thấy đôi chân trở nên nhẹ tênh kỳ lạ. Một ngày thứ bảy nọ, chúng tôi ra chuồng ngựa và phát hiện tất cả các cánh cửa đều được mở, cho phép ánh sáng mặt trời và không khí trong lành ùa vào, một điều hiếm xảy ra trong chuồng ngựa. Chú Henry đã đứng sẵn ở đấy, thơ thẩn nhìn vào những cuốn lịch cũ được để thành chồng ở phía sau dãy chuồng, nơi mà có lẽ mẹ tôi chưa bao giờ vào đến.  
  
"Nào, hãy đến đây chào tạm biệt anh bạn Mack của chúng ta đi chứ?”  chú Henry nói. "Đây, cho nó một ít yến mạch." Chú đổ vào tay Laird một ít yến mạch và thằng bé chạy đi cho Mack ăn. Con Mack đã già, răng đã yếu và rụng nhiều nên nó nhai rất chậm rãi, trệu trạo đưa qua đưa lại nắm yến mạch trong miệng tìm răng để nhai. "Tội nghiệp con Mack quá đi thôi,”, chú Henry buồn buồn nói. “Khi một con ngựa già rụng hết rằng thì cũng là lúc nó nên đi thôi. Quy luật muôn đời là thế.”
  
" Chú sẽ bắn nó hôm nay à? " , Tôi hỏi. Mack và Flora đã ở với chúng tôi khá lâu, đến nỗi tôi quên mất là đến một lúc nào đó chúng cũng sẽ bị bắn.

Chú  Henry không trả lời. Thay vào đó chú bắt đầu hát, một giọng hát ngân rung và buồn thảm một cách hơi chế giễu. Ôi, hết việc rồi, chú Ned đáng thương ơi, chú sẽ ra đi nơi những người da đen tốt bụng cũng đã ra đi.  Con Mack vẫn chăm chỉ thè lưỡi nhặt những hạt yến mạnh trong bàn tay của Laird. Không chờ cho chú Henry hát xong, tôi bỏ ra ngoài và ngồi một mình trên cầu tàu.
  
Tôi chưa bao giờ thấy một con ngựa bị bắn, nhưng tôi biết họ thực hiện việc ấy ở đâu. Mùa hè năm ngoái tôi và thằng Laird đã nhìn thấy bộ ruột của một con ngựa trước khi người ta đem chôn. Mới đầu chúng tôi tưởng đó là một con rắn lớn màu đen, nằm cuộn tròn trong ánh mặt trời. Đó là khu vực trên cánh đồng dẫn đến nhà kho. Tôi nghĩ nếu bọn tôi trốn trong nhà kho  và tìm một vết nứt rộng hoặc một lỗ khóa để nhìn thì bọn tôi có thể thấy cảnh họ bắn con ngựa.  Đó không phải là cái cảnh mà  tôi muốn xem; tuy nhiên, nếu điều ấy đàng nào cũng sẽ xảy ra thì xem cho biết vẫn tốt hơn.

Cha tôi từ trên nhà đi xuống; thấy bọn tôi, ông hỏi:
"Mấy đứa làm gì ở đây thế?".
"Không có gì ạ."
" Vậy thì lên nhà chơi đi”.    

(còn tiếp)



-----------

Rất hiếm khi mẹ tôi ra chỗ chuồng cáo. Bà rất ít khi ra khỏi nhà trừ khi cần phải làm như vậy – để phơi quần áo hoặc đào khoai tây. Ở ngoài trời trông bà có vẻ lạc lõng xa lạ với đôi cẳng chân mập mạp để trần, làn da không hề sạm nắng mặt trời, trước bụng vẫn còn mang cái tạp dề ẩm ướt do dính nước khi chuẩn bị bữa ăn tối.  Mái tóc của bà được vấn gọn trong một chiếc khăn, với một vài lọn rớt ra ngoài. Bà thường vấn vội tóc lên như vậy vào buổi sáng, vừa vấn vừa kêu bà chẳng có thời gian để vấn tóc kỹ hơn, và suốt cả ngày bà vẫn để nguyên kiểu tóc vấn như thế. Quả đúng là bà không có thời gian thật. Những ngày này phía sau nhà của chúng tôi đã được chất đống với những giỏ đào và nho , lê, những thứ được mua từ trong thị trấn, rồi hành, cà chua và dưa chuột được trồng ở nhà, tất cả đang chờ đợi để được làm thành các loại thạch và mứt, muối thành dưa chua và xay thành tương đặc. Trong nhà bếp có một lò đun đỏ lửa suốt ngày, trên lò nồi nước đang sôi sùng sục các keo mứt trong nồi  chạm nhau kêu lanh canh,  đôi khi còn thấy một chiếc túi vải được treo trên một thanh gỗ giữa hai chiếc ghế dùng để ép trái nho để làm thành thạch. Mẹ tôi cũng có những việc cần tôi giúp, và tôi ngồi vào bàn lột vỏ những trái đào đã được ngâm trong nước nóng , hoặc cắt hành tây khiến mắt tôi cay xè và nước mắt chảy ràn rụa.  Ngay sau khi làm xong mấy việc được giao tôi vội chạy ra khỏi nhà , cố gắng đi khá xa trước khi mẹ tôi kịp nghĩ ra việc gì khác để giao cho tôi làm . Tôi ghét cái bếp nóng nực và tối tăm trong những ngày hè, ghét những tấm màn sáo và tấm vải dính bắt ruồi màu xanh lá cây , ghét mấy thứ cũ kỹ trong bếp như tấm khăn trải bàn bằng vải dầu, tấm gương lượn sóng và lớp vải sơn đã phồng rộp.  Mẹ tôi đã quá mệt mỏi và bận rộn nên chẳng nói chuyện với tôi, bà chẳng còn tâm trí nào để nói về buổi khiêu vũ tốt nghiệp ở trường sư phạm, mồ hôi chảy thành giọt trên mặt trong khi bà hổn hển đếm các lọ mứt, chỉ tay vào các chai lọ và đong từng chén đường để đổ vào. Đối với tôi công việc nội trợ dường như vô tận, ảm đạm và vô cùng tẻ nhạt, trong  khi công việc của cha tôi được thực hiện ở ngoài trời, và có một vẻ đặc biệt quan trọng gần như là nghi lễ.



Tôi  đẩy chiếc xe chở nước đến chỗ nhà kho, đây là nơi chứa các dụng cụ , và tôi nghe mẹ tôi nói , "Anh ráng chờ đến khi thằng Laird  lớn thêm chút nữa, lúc ấy anh sẽ có người giúp thực sự."


Tôi không nghe được câu trả lời của cha tôi. Nhưng tôi cảm thấy hài lòng khi thấy cách ông đứng nói chuyện với mẹ tôi, lịch sự tử tế như khi ông đang trả lời một nhân viên bán hàng hoặc một người khách lạ, nhưng với một vẻ hơi sốt ruột và  muốn được quay lại với công việc mà mình đang làm.  Tôi cảm thấy mẹ tôi chẳng có phận sự gì ở chỗ này, và muốn cha tôi cũng cảm thấy như vậy. Mà mẹ tôi nhắc đến Laird như vậy là có nghĩa gì ấy nhỉ?  Nó làm sao mà giúp đỡ gì cho ai được.  Mà không biết bây giờ nó đang ở đâu đây? Hẳn lại đang ngồi đu tít trên xích đu cho đến khi phát bệnh, hoặc đang chạy vòng vòng, hay lại đi bắt mấy con sâu bướm. Chưa bao giờ nó ở lại chờ tôi cho đến khi tôi xong việc.

  
"Lúc ấy em có thể nhờ con bé nhiều hơn để phụ việc nhà với em," Tôi nghe mẹ tôi nói. Cái cách bà nhắc đến tôi với một vẻ buồn buồn và trách móc luôn khiến tôi cảm thấy khó chịu. "Em vừa mới quay lưng là con bé bỏ đi đâu mất tiêu. Cứ như là em chẳng có đứa con gái nào cả."



Tôi bỏ đi và ngồi trên một túi thức ăn trong góc nhà kho, không muốn xuất hiện khi cuộc trò chuyện ấy đang xảy ra. Tôi cảm thấy không tin tưởng mẹ tôi. Bà hiền hậu hơn cha tôi và tôi và dễ tin người hơn, nhưng đồng thời bà cũng rất hay thay đổi, và bạn không thể biết được lý do thực sự nằm dưới những lời nói hoặc hành động của bà. 


Tôi biết bà yêu tôi, sẵn sàng ngồi thức cả đêm để may cho tôi một chiếc váy cầu kỳ mà tôi thích để tôi mặc vào buổi khai trường, nhưng mặt khác bà cũng chính là kẻ thù của tôi. Lúc nào bà cũng có mưu kế gì đó. Hẳn khi nói chuyện với cha tôi là trong đầu bà đã có sẵn một kế hoạch bắt tôi ở trong nhà phụ việc cho bà nhiều hơn, mặc dù bà biết tôi ghét điều đó (hay chính vì bà biết điều đó nhỉ) và không cho tôi phụ việc cho cha tôi nữa. Dường như bà làm vậy chẳng qua là vì thích thế, để thử sức mạnh của mình. Tôi chẳng bao giờ nghĩ ra rằng có thể bà cũng cô đơn chăng, hoặc ghen tỵ với cha tôi. Làm gì người lớn nào lại cô đơn hay có gì để ghen tỵ nữa; họ đã quá may mắn rồi còn gì. Tôi ngồi đó lấy gót chân đá đá vào một bao thức ăn gia súc khiến bụi bay mù mịt, và cứ ở mãi trong nhà kho cho đến khi mẹ tôi đã đi hẳn.

 

Dù sao đi nữa, tôi  cũng  không nghĩ rằng cha tôi sẽ chú ý đến những lời của mẹ tôi. Ai mà tưởng tượng nổi thằng Laird lại làm công việc của tôi – thằng  Laird ấy mà mong nó khóa cổng, hoặc rửa sạch các đĩa đựng nước cho cáo bằng cách dùng một cái que đầu có buộc một túm lá để cọ cho cẩn thận như tôi vẫn làm, hoặc thậm chí đẩy được cái xe chở nước mà không làm cho xe đổ nhào ư? Rõ ràng là mẹ tôi chẳng hiểu gì về những công việc ở trại nuôi cáo này.

Kỳ 1 ở đây: http://bloganhvu.blogspot.com/2013/11/con-gai-con-trai-truyen-ngan-cua-nha.html
-------------


Khi chưa bị giết để lấy lông, bầy cáo sinh sống trong một thế giới mà cha tôi đã tạo ra cho chúng. Thế giới này được  bao quanh bởi một hàng rào bảo vệ cao, giống như một thị trấn thời trung cổ, có cổng được khoá vào ban đêm. Dọc theo các đường phố của “thị trấn” này là những cái chuồng to và chắc chắn. Mỗi chuồng có một cái cửa lớn cho phép một người lớn có thể bước vào chuồng, một thanh gỗ được treo bằng những sợi dây kẽm để bầy cáo có thể leo trèo và vận động, và một cái cũi – có lúc trông hơi giống một cái rương quần áo với các lỗ thông hơi – nơi bầy cáo có thể chui vào ngủ vào mùa đông và đẻ con. Những đĩa đựng thức ăn và nước uống cho bầy cáp được gắn vào những sợi dây kẽm sao cho có thể thay rửa từ bên ngoài. Những đĩa này được làm bằng lon thiếc cũ, còn thanh gỗ và cái cũi thì làm bằng những mảnh gỗ đầu thừa đuôi thẹo cưa ra từ những cây gỗ rừng. Tất cả mọi thứ đều gọn gàng và khéo léo, cha tôi là một người thích chế tạo mọi thứ không mệt mỏi; cuốn sách mà ông yêu thích nhất trên đời là cuốn Robinson Crusoe. Ông gắn thêm một cái thùng thiếc trên một chiếc xe cút kít để đưa nước vào chuồng nuôi cáo.  Đây là công việc của tôi vào mùa hè, khi ấy bầy cáo cần phải cho uống nước một ngày hai lần. Một lần vào khoảng từ chín đến mười giờ sáng, và lần sau là vào sau bữa ăn tối. Tôi hứng đầy nước vào trong  những cái thùng từ các máy bơm rồi đẩy chiếc xe qua sân đến chỗ chuồng nuôi cáo, dừng lại và đổ nước vào đầy những lon đựng nước dọc theo hai bên đường. Thằng Laird cũng đi theo tôi, tay cầm cái bình tưới cây mini màu xanh nhạt, được đổ nước đầy tràn miệng và lúc bước đi thì bình tưới đụng vào ống chân nó làm nước đổ ướt cả đôi giày vải. Bình tưới mà tôi cầm thì đúng là bình tưới thực sự, là bình mà cha tôi sử dụng, mặc dù tôi chỉ có thể xách đầy ba phần tư bình mà thôi.

  

Tất cả bầy cáo đều được đặt tên, tên của chúng được ghi lên trên một tấm thiếc và treo bên cạnh cửa. Chúng không được đặt tên vào đúng ngày được sinh ra, mà phải đợi sau khi chúng đã sống qua được một năm và được bổ sung vào bầy cáo giống. Những cái tên mà cha tôi hay dùng gồm có Prince, Bob , Wally, và Betty. Tôi thì hay đặt tên những tên như  Star, Turk, Maureen  hoặc Diana. Còn thằng Laird thì đặt tên mọt con tên Maude, lấy theo tên cô gái làm thuê cho chúng tôi khi cu cậu còn nhỏ, một con tên Harold lấy theo tên một đứa bạn ở trường, và con tên Mexico , tên này thì nó chẳng nói lý do tại sao .

  

Việc đặt tên như vậy không có nghĩa là chúng tôi xem bầy cáo như những con thú cưng, hoặc đại loại như thế. Cha tôi không bao giờ đi vào trong chuồng nuôi cáo, và ông đã hai lần bị nhiễm độc máu vì bị chúng cắn. Khi tôi mang nước đến cho bầy chồn, chúng chạy lên chạy xuống trên những con đường mòn mà chúng đã tự tạo trong chuồng, thỉnh thoảng có sủa lên một tiếng nhưng rất hiếm – chúng để dành tiếng sủa cho ban đêm , lúc ấy chúng cùng tru lên tạo ra một điệp khúc điên cuồng của cả bầy – nhưng chắc chắn là chúng sẽ nhìn tôi với  đôi mắt sáng quắc màu vàng hổ phách, khuôn mặt nhọn và trông thật hung ác. Những con cáo thật đẹp, chúng có hai cặp chân thon , cái đuôi dài trông thật quý phái, và dải lông sáng màu dọc trên lưng nổi bật trong bóng tối – nhưng đặc biệt nhất là khuôn mặt của chúng,bộc  lộ vẻ thù địch rõ ràng, và cả đôi mắt màu vàng nữa.

------
Đăng tiếp chiều  6/11/2013


Ngoài việc  mang nước cho bầy cáo tôi còn phụ cha tôi cắt cỏ mọc ở 2 bên chuồng cáo,  xẻ thịt cừu hoặc cắt lấy túi xạ hương.  Ông dùng một  lưỡi hái để cắt  cỏ còn tôi thì cào lại  thành đống . Sau đó, ông lấy một chĩa ba để  ném xúc và quăng đám cỏ mới cắt lên trên nóc chuồng cừu để giữ mát chuồng và che nắng để tránh cho bộ lông cáo không bị nắng quá nhiều để khỏi bị ngả màu nâu  sạm. Cha tôi hầu như không bao giờ nói chuyện với tôi, nếu không kể những trao đổi về chính công việc đang làm. Ở điểm này ông không giống mẹ tôi chút nào, vì khi nào mẹ tôi vui bà sẽ chia sẻ với tôi đủ thứ chuyện – kể  về con chó mà bà đã nuôi hồi bà còn nhỏ,  về  mấy người bạn trai  mà bà đã từng hò hẹn khi lớn hơn mộ tchút,  và về những bộ váy đầm mà bà đã từng diện, trông chúng như thế nào – rồi bà tự hỏi, những người xưa cảnh cũ ấy bây giờ ra sao rồi. Còn cha tôi thì nếu ông có suy nghĩ gì cũng chỉ giữ cho riêng mình, tôi rất nhát với ông và không bao giờ dám hỏi ông bất cứ câu hỏi nào. Tuy nhiên, dưới mắt ông tôi là một đứa bé luôn làm việc một cách hăng hái, và ông khá hãnh diện về điều đó. Có lần có một nhân viên bán hàng thực phẩm gia súc đi xuống khu chuồng nói chuyện với cha tôi và ông bảo: "Tôi muốn giới thiệu với anh người  nhân viên phụ việc mới của tôi”. Tôi đỏ mặt quay đi, giả vờ bận rộn cào cỏ, nhưng cảm thấy  lòng vui rộn rã.

   
"Tôi suýt nhầm đấy." Người nhân viên bán hàng nói . "Tôi cứ tưởng nó là con gái  đấy chứ.”


Khi đã xong đợt cắt cỏ, trời bỗng như vừa chuyển sang cuối năm thật nhanh. Tôi bước trên đám gốc cỏ vào lúc chiều tà và nhận ra màu trời đỏ úa  trong bầu không khí lặng lẽ của mùa thu. Khi tôi đẩy chiếc xe chở nước ra khỏi cổng và móc  khóa lại để khóa cổng, trời đã tối hẳn . Có một lần cũng vào thời điểm này tôi thấy mẹ tôi cùng cha tôi đứng nói chuyện trên dải đất nhỏ nhô lên mặt đất mà chúng tôi gọi là “đường băng”, ngay trước  cái kho chứa dụng cụ. Cha tôi vừa từ lò mổ ra , vẫn  còn mặc cái tạp dề bê bết máu, tay cầm một cái xô đựng thịt vừa mới được mổ ra.


(còn tiếp)

Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.