Latest Post

Blog này chuyên cung cấp các tài liệu miễn phí cho các bạn cần. Hãy click vào baner quảng cáo để ủng hộ mình nhé !

Bài viết này tôi vừa nhận được qua mail từ anh GNLT, và lập tức đăng lên đây - vừa để chia sẻ với bạn bè, và quan trọng hơn là để lưu cho tôi. Vì anh GNLT, cũng như những bạn bè khác, thỉnh thoảng vẫn gửi cho tôi bài này bài khác, đa số đều là những bài rất hay và tôi có ý định đăng lên, chỉ còn chờ thời gian phù hợp. Nhưng rồi thỉnh thoảng quên hẳn, thậm chí có khi còn lỡ tay xóa mất thư nữa chứ, một "tội" rất nặng phải không?

 Theo lời giới thiệu ngắn của tác giả, đây là một phần của một tiểu luận văn học đã được đăng báo và tham luận tại Hội thảo khối đại học SP Ngữ văn, nay gửi cho tôi đọc (chắc là để bổ túc kiến thức của tôi về văn học cổ Trung Hoa đấy mà, hi hi). Vì là một bài viết hàn lâm để đăng báo và tham luận tại một hội thảo khoa học nên văn phong của bài viết hơi nghiêm túc,  không cà rỡn như văn của tôi (mà cũng có thể là do thầy GNLT rất mô phạm nên văn phong của thầy cũng thể hiện ra như thế). Bài viết cũng hơi dài, nên những ai có tính vừa lười vừa dốt như tôi vừa trông thấy thì có thể sẽ hơi ... ngán (vì lười mà). 

Nhưng các bạn ơi, lười, dốt và ẩu như tôi có lẽ đã là tận cùng, thế mà khi ráng đọc vào trong bài (vì nể thầy GNLT quá, không dám phụ lòng) thì tôi vẫn thấy là bài viết rất hay và đáng đọc, kể cả đối với những người như tôi, bởi nó không chỉ có nhiều thông tin (hàn lâm, giáo khoa) mà còn có cả phần cảm thụ riêng của thầy GNLT nữa.  Tôi đặc biệt thích phần Phụ lục của bài viết, nói về dư âm của HHL trong văn học VN hiện đại, trong đó có nhắc đến bài hát mà tôi rất thích là bài Thu hát cho người.


 Và đối với một đứa nhiều cảm tính ít lý tính như tôi thì phần cảm thụ ấy mới là phần đáng đọc nhất, chứ không phải là phần kiến thức giáo khoa của bài viết. (Tất nhiên đây là vì tôi đang đọc kiểu chơi chơi,  viết blog chứ nếu đi thi mà suy nghĩ như thế này thì chắc chắn là rớt cái bộp mất thôi, hu hu!!!)

Thôi, không nói thêm dài dòng nữa (vì càng nói thì sẽ càng lộ cái dốt của mình ra), xin các bạn đọc bài viết dưới đây nhé. Và mong là nó sẽ thực sự bổ ích, cung cấp thêm cho các bạn những kiến thức cần thiết về văn học cổ Trung Hoa.

 ---------
HOÀNG HẠC LÂU, THỰC ẢO VÀ BỐ CỤC ĐỘC ĐÁO

Giang Nam lãng tử

Cái ảo trong thơ

Người ta thường nói nhà thơ hay “mơ mộng”với ý diễu cợt lối sống lối cảm xa thực tế, viển vông. Người ta đã lầm lẫn giữa lối sống và lối tư duy thơ. Mơ mộng chính là lối tư duy thơ, tạo ra cái ảo trong thơ. Cái ảo gắn bó mật thiết với cuộc sống. Nghĩ cho cùng, cái ảo là phần không thể thiếu trong cuộc sống con người. Bản chất của cái ảo chính là tâm tưởng, chủ quan, tương phản bề ngoài với cái “hiện thực”.

Chúng ta thử đọc “Hoàng hạc lâu” theo cách xác định thực / ảo 


Cảnh vật nào hiện trước mắt nhà thơ là cảnh “thực”, cảnh nào chỉ xuất hiện ở trong tâm tưởng, liên tưởng, tưởng tượng hoặc nhìn lầm gọi là cảnh “ảo”.

Hoàng hạc lâu

Ai cưỡi hạc vàng đi mất hút (cảnh ảo)
Trơ lầu Hoàng Hạc chốn này thôi (cảnh thực)
Hạc vàng một lần đi, đi biệt (cảnh ảo)
Mây trắng ngàn năm bay chơi vơi (cảnh thực pha ảo)
Sông tạnh Hán Dương, cây sáng ửng (cảnh thực)
Cỏ thơm Anh Vũ bãi xanh ngời (cảnh thực)
Hoàng hôn về đó, quê đâu tá ? (cảnh thực pha ảo)
Khói sóng trên sông não dạ người (cảnh thực pha ảo)

 

(Khương Hữu Dụng dịch thơ)

Nào chúng ta thử theo gót thi nhân bước tới lầu Hạc vàng, theo sát từng cử chỉ của nhà thơ, qua từng câu một, xem sự thể và tâm trạng Thôi Hiệu ra sao.

Vừa bước chân đến lầu Hạc, nhà thơ chăm chú nhìn quanh xem hạc vàng có ở đó không và …không thấy hạc vàng, chỉ trơ cái lầu không…Nhà thơ chưa vội mất hi vọng, ông ngẩng đầu nhìn bầu trời, biết đâu hạc đang bay tới, sắp hạ cánh… Nhưng cũng chẳng thấy gì ngoài một đám bạch vân lơ lửng.

Đứng ngóng cổ mãi, mỏi mệt rồi, ông thất vọng, khẳng định não nề “Hạc vàng một lần đi, không trở lại” rồi. Chỉ còn “bạch vân” đồng cảm với ông, nó cũng đang thẩn thơ bay trên trời.

“Bạch vân thiên tải không du du” (Mây trắng ngàn năm bay chơi vơi”. Thực tế là, đám mây trắng ấy chỉ tồn tại một ngày đêm, qua ngày sau sẽ là đám mây khác mới sinh.


Nhưng nhà thơ tưởng tượng (tin rằng) đám mây ấy đã sinh ra từ nghìn năm trước, từng đồng hành cùng hạc vàng trong chuyến đưa đạo sĩ Phí Văn Vi đến cõi Bồng Lai tiên cảnh (truyền thuyết). Đến nay nó (bạch vân nghìn năm trước) vẫn còn lững thững, thẫn thờ bay trên trời cao, cũng như Thôi Hiệu, nó ngóng chờ một chuyến hạc vàng đưa người khác nữa .“Bạch vân” đã được nhân cách hóa, trở nên một bạn đồng tâm đồng cảm với thi nhân, cùng mong ngóng hạc vàng trở lại. Thôi Hiệu đã sáng tạo một “nhân vật” tên là “bạch vân” cho đỡ cô độc, thật tuyệt vời lãng mạn phải không bạn?

Nhà thơ hạ tầm mắt, nhìn ra xung quanh lầu:

Sông tạnh Hán Dương, cây sáng ửng
Cỏ thơm Anh Vũ bãi xanh ngời

Đó là hai cảnh vật mà lúc mới tới ông không để tâm, bởi ông chỉ dõi tìm chim Hạc. Bây giờ ông mới chăm chú nhìn lại. Đó là hai cảnh đẹp, đầy sức sống như kêu gọi người thưởng thức. Giấc mơ thần tiên nhòa dần và tan đi trước cảnh sống thực ngan ngát bày ra trước mắt…

Trời đã về chiều, nhà thơ muốn quay trở về làng quê ông, nơi ông từ đó ra đi, định bụng một đi không trở lại. Có thể lúc đầu ông mất định hướng quê nhà khi đang ở một nơi xa xôi, lần đầu đặt chân tới (Ai cũng vậy cả).

Hoàng hôn về đó quê đâu tá ? Vượt ra ngoài cảnh hiện thực trước mắt, nhà thơ nghĩ về làng quê mình, ngơ ngác quay bốn hướng rõi tìm! Đây là cảnh ảo sinh ra trong trí tưởng tượng của nhà thơ…

Lòng buồn rười rượi, ông viết “khói sóng trên sông” khiến ông “buồn” (sử nhân sầu). Bạn đọc thông cảm với cách nói tránh né của nhà thơ. Chúng ta biết, vì thất vọng trên đường tìm đến cõi thần tiên nên nhà thơ buồn rầu, nhưng ông khó thừa nhận sự thật ấy. Vậy nên ông tạm thời quy lỗi cho “khói sóng” vậy.

2. Bàn thêm về bố cục (được coi là kết cấu đơn giản nhất của một tác phẩm nghệ thuật, nhìn qua biết liền. Ví dụ chương, hồi của tiểu thuyết Minh Thanh. Khổ thơ của bài thơ. Số chương của bản nhạc giao hưởng .v.v….). Một bài văn (tiểu luận) của học trò hay một diễn văn quan trọng cỡ như “Tuyên ngôn độc lập” đều có bố cục/ dàn bài 3 phần như nhau: Mở bài -Thân bài - Kết luận.

Bố cục bài thơ bát cú tuy gọi là 4 phần nhưng có thể sắp xếp lại thành 3 phần thôi . “Đề” tương ứng với “Mở bài”, “Thực” và “Luận” gom chung vào “Thân bài”, và “Kết” thì tương ứng với “Kết luận”. So sánh để thấy rằng “bố cục” của Bát cú rất hiện đại và cũng dễ hiểu. Tuy nhiên bố cục 4 phần của Đường thi có thể gây nhàm, trùng lặp giữa các bài thơ. Thực tế, các nhà thơ đều phá cách, tạo ra một kết cấu mới (bố cục mới) ẩn kín trong tác phẩm, không dễ nhìn ra ngay. Tóm lại, có hai bố cục song song tồn tại, một theo công thức, một là sáng tạo cá nhân… Đọc Hoàng hạc lâu có thể nhìn thấy được bố cục 04 phần theo công thức như đã trình bày ở trên, nhưng Lãng tử còn nhận thấy một kết cấu ngầm bên trong HHL đó là bố cục thực /ảo đan xen, liên tục. Đây là bố cục độc đáo làm nổi bật tâm trạng nhà thơ.

Thôi Hiệu đã phát minh một cấu trúc mới “Thực -Ảo” xuyên suốt cả bài thơ. Bố cục này chỉ rõ tâm trạng ngẩn ngơ giữa hai lựa chọn: đi tìm cõi thần tiên (ảo) hay là trở về thực tạ (thực) ?. Hẳn là, sau khi “giấc mộng hạc vàng” tan vỡ, Thôi Hiệu phải quay về chấp nhận thực tại chán chường dù ông không muốn.

Phụ lục


Dư âm của Hòang hạc lâu

1. Ca khúc THU, HÁT CHO NGƯỜI
Vũ Đức Sao Biển

(Nghe bài hát: http://www.youtube.com/watch?v=g52MtLf9Dfg)

Giòng sông nào đưa người tình đi biền biệt,
Mùa thu nào đưa người về thăm bến xưa ?

Hoàng hạc bay, bay mãi bỏ trời mơ (*1).
Về đồi sim, ta nhớ người vô bờ.
Ta vẫn chờ em dưới gốc sim già đó (*2),
Để hái dâng người một đóa đẫm tương tư.
Đêm nguyệt cầm (*3) ta gọi em trong gió.
Sáng linh lan hồn ta khóc bao giờ.

(…)
Chù thích: Ca khúc của Vũ Đức Sao Biển vận dụng ba bài thơ:
*1: “Hoàng hạc lâu “ của Thôi Hiệu
*2: Bài thơ “Mối tình đầu” của Lưu Trọng Lư
*3: Bài thơ “Nguyệt cầm” của Xuân Diệu

2. Nhà thơ Ngô Văn Tao viết bài thơ haiku bằng Hán tự:

Tương kiến hề! Cố nhân
Vũ khúc hoàn lai hoàng hạc khứ (*)
Hồng Lâu hoa táng lệ (**)


Nghệ sĩ Trịnh Công Sơn dịch thơ:

Còn đây lễ lạc con người
Vườn hoa, gác cũ lệ đời đã xa


(Hán tự hài cú, Ngô Văn Tao, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 2001)

Giang Nam Lãng tử dịch nghĩa:


Gặp lại nhau rồi, cố nhân ơi
Hạc vàng quay trở về nhảy múa,
Lệ chôn hoa rỏ đẫm chốn Lầu Hồng.


(Lãng tử chú thích: (*) Hoàng hạc lâu, (**): Tiểu thuyết Hồng lâu mộng

GNLT 

Game Khí Phách Anh Hùng - Cập nhật tính năng mới
Khí Phách Anh Hùng cập nhập tính năng mới
Thông báo cập nhật một số tính năng mới cho KPAH bao gồm :
+ Hệ thống thông báo có giặc
+ Hệ thống thông báo tuyên dương giết giặc
+ Thần hành phù

Giải thích những tính năng mới :
- Một người chơi khi sang lãnh thổ khác và đồ sát người của lãnh thổ đó thì người chơi đó bị xem là giặc. Hệ thống sẽ thông báo có giặc nếu người trong lãnh thổ bị giặc giết chết.
VD : A - Thanh Long bị đánh bại bởi B - Hắc Hổ tại Trường Giang rồi !
- Khi xuất hiện thông báo có giặc như trên người chơi có thể sử dụng Thần Hành Phù (có bán bằng xutại Menu - Cửa Hàng) để di chuyển tức thời đến vị trí của giặc đang đứng để ra tay tương trợ cho người cùng lãnh thổ đã bị đánh bại.
- Khi đánh bại giặc người chơi sẽ được tuyên dương trên toàn hệ thống.
VD : A - Thanh Long đánh bại B - Hắc Hổ tại Trường Giang rồi !
Ngoài ra giá Loa tại Cửa Hàng cũng đã được giảm giá
Mong rằng với những tính năng mới này sẽ giúp người chơi trong cùng lãnh thổ sẽ cùng tương trợ lẫn nhau khi có giặc tốt hơn.
Ngoài ra sẽ cố gắng ra mắt bảng Top Công Trạng và tính điểm công trạng khi giết giặc đổi quà trong thời gian sớm nhất.
Bổ sung thêm :
- Khi sang lãnh thổ khác nếu bị người của lãnh thổ đó đánh bại, bạn sẽ bị trừ exp, vì thế nên cân nhắc cẩn thận trước khi sang lãnh thổ khác các bạn nhé.
- Ngoại trừ map Biên Giới khi PK sẽ không bị trừ điểm exp.

Hôm trước tôi đã đăng phần 1 của bài nhập môn về Đường thi của thầy GNLT. Nay xin đăng tiếp phần còn lại, cũng là phần mà tôi "nhằn" mãi mà không tiêu được, vì tâm lý không muốn tiếp thu cái gọi là luật lệ chặt chẽ về ngữ âm của nó.  Tôi nhớ ngày xưa thời đi học trung học, cô giáo dạy văn cứ nói đi nói lại cụm từ "niêm luật chặt chẽ", mà tôi thì tự xem mình là con người tự do phóng khoáng, ghét luật lệ bó buộc, nên có tâm lý phản kháng với luật lệ của thơ Đường từ đó đến giờ.

Nhưng cũng vì thế mà tôi bị ... mất căn bản nên giờ này phải học bù, hu hu hu! Các bạn đọc ở dưới đây nhé. 

Nói thêm: cái tựa ở trên cũng do tôi tự đặt ra trên cơ sở thêm bớt những gì mà anh GNLT đã viết.
-------------------
2. PHÂN LOẠI

Đường Thi chủ yếu gồm 2 loại: Thơ cổ phong và thơ Ðường luật (còn gọi thơ cận thể) .
+ Thể cổ phong gồm những thể thơ có từ trước thời nhà Đường và vẫn được sáng tác trong thời Đường, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng của thơ Đường luật.
+ Thơ Đường luật (còn gọi thơ cận thể) hình thành và ổn định trong thời Đường.
 

Phân loại Đường luật:

- Phân loại theo số tiếng trong câu gồm hai loại: thất ngôn và ngũ ngôn
- Phân loại theo số câu trong bài thì có 3 dạng chính:
Thơ bát cú (8 câu), 8x 7 và 8 x 5
Thơ tứ cú (4 câu) thường gọi “tứ tuyệt” / tuyệt cú : 4x7 và 4x 5
Thơ bài luật gồm nhiều khổ tứ tuyệt, kéo dài vô hạn.
Trong 3 dạng trên, thất ngôn bát cú (8 x7) có cấu trúc hoàn chỉnh nhất, mẫu mực nhất.

Sau đây chúng ta chỉ nghiên cứu thể “bát cú thất ngôn” (hoặc thất ngôn bát cú)

3- BỐ CỤC
Bát cú thất ngôn gồm 04 phần:
“đề - thực - luận - kết”, mỗi phần.được giao một nhiệm vụ.
Ðề: phần mở đầu có hai câu. Câu 1 phá đề, giới thiệu. Câu 2 thừa đề (tiếp ý để chuyển vào bài).
Thực : câu 3 và 4: trình bày hiện thực, nói rõ vấn đề của bài
Luận : câu 5 và 6 : phát triển rộng thêm, tỏ thái độ
Kết : câu 7 và 8 kết thúc, hợp ý toàn bài.
Ý nghĩa của bố cục: tương tự một dàn bài văn thông thường.

Tuy nhiên, thực tế bố cục trên được vận dụng rất uyển chuyển (tiền bán/ hậu bán. hoặc 4/4 .v.v..).

(Bổ sung: Bố cục 4 phần có cách gọi tên thứ 2: “khai - thừa - chuyển - hợp” chỉ ra mối quan hệ liên tục của 4 phần)

4. LUẬT NGữ ÂM
Là qui định về thanh bằng và thanh trắc trong từng câu và trong cả bài.

Luật ngữ âm được bắt đầu bằng âm thanh của chữ thứ 2 của câu thứ nhất. Nếu chữ thứ 2 là thanh bằng thì gọi bài thơ luật bằng. Chữ thứ hai là thanh trắc gọi là bài thơ luật trắc, (ví dụ bài "Vô đề" của Lý Thương Ẩn là theo luật trắc (ghi vào tiếng thứ 2: kiến), còn bài "Hoàng hạc lâu" của Thôi Hiệu là luật bằng (ghi vào chữ thứ 2: nhân).
 

Luật của bài thơ xác định rõ âm hưởng chủ đạo của toàn bài, giống như "gam" của một bài hát, bản nhạc hiện đại phương Tây (gam chủ thể hiện ở nốt nhạc cuối cùng).
 

Đọc bài “Vô đề” Lý Thương Ẩn, ta thấy chữ thứ 2 câu đầu là thanh trắc (kiến) báo hiệu một âm điệu nặng nề, u uất bao trùm toàn bài. Bài “Tiên tử tống Lưu Nguyễn xuất động”, chữ thứ 2 câu đầu là thanh bằng (cần) báo trước một âm hưởng nhẹ nhàng, nao nao suốt bài kể cả dư âm, dư vị.

Vô đề
(Lý Thương Ẩn)

Tương kiến thời nan biệt diệc nan
Ðông phong vô lực bách hoa tàn
Xuân tàm đáo tử ty phương tận
Lạp cự thành khôi lệ thỉ can
Hiểu kính đãn sầu vân mấn cải
Dạ ngâm ưng giác nguyệt quang hàn
Bồng Lai thử khứ vô đa lộ
Thanh điểu ân cần thám vị khan

Dịch thơ

Khó gặp nhau mà cũng khó xa,
Gió xuân đành để rụng trăm hoa.
Con tằm đến thác tơ còn vướng,
Chiếc nến chưa tàn lệ vẫn sa.
Sáng ngắm gương buồn thay mái tuyết,
Đêm ngâm thơ thấy lạnh trăng ngà.
Bồng Lai tới đó không xa mấy,
Cậy với chim xanh dọ lối mà.
(Khương Hữu Dụng và Tương Như)




Tiên tử tống Lưu Nguyễn xuất động
(Tào Đường)

Ân cần tống biệt xuất Thiên Thai
Tiên cảnh na năng khước tái lai
Vân dịch kí qui tu cưỡng ẩm
Ngọc thư vô sự mạc tần khai
Hoa đang động khẩu ưng trường tại
Thuỷ đáo nhân gian định bất hồi
Trù trướng khê đầu tòng thử biệt
Bích sơn minh nguyệt chiếu thương đài


Dịch nghĩa

Ân cần tiễn khỏi núi Thiên Thai
Cõi tiên đâu đến lần nữa được !
Rượu mây người về cố uống đi
Lá thư không cần thì đừng mở
Hoa cửa động sẽ còn tươi mãi
Nước về trần quyết không trở lại
Ngơ ngẩn đầu suối, từ đây li biệt
Ánh trăng núi biếc soi lớp rêu xanh

(Phùng Hoài Ngọc)

Nhìn trong bảng công thức, bên trái là bài thơ luật bằng (b) đóng khung, còn bên phải là bài thơ luật trắc (t) đóng khung.

[Vì đăng lên blog không thể có 2 cột nên tôi đăng bên trái ở trên và bên phải ở dưới và không có đóng khung các bạn nhé.]
Bài thơ luật bằng, vần bằng
1. b b t t t b b
2. t t b b t t b
3. t t b b b t t
4. b b t t t b b
5. b b t t b b t
6. t t b b t t b
7. t t b b b t t
8. b b t t t b b


Bài thơ luật trắc, vần bằng:
1. t t b b t t b
2. b b t t t b b
3. b b t t b b t
4. t t b b t t b
5. t t b b b t t
6. b b t t t b b
7. b b t t b b t
8. t t b b t t b

Nếu bài thơ nào cũng đúng luật như trên thì e rằng giống nhau, dễ nhàm chán, đôi khi nhà thơ cũng loay hoay, bó tay khi chọn chữ, vậy nên luật cho phép có ngoại lệ.
 

Bất qui tắc nói như sau : « Nhất - tam - ngũ bất luận » (cho phép tiếng thứ 3,5,7 tùy chọn bằng/ trắc), nhưng phải đảm bảo «nhị - tứ - lục phân minh » (tiếng 2,4,6 phải đúng công thức trên).

Bài thơ có 4 liên (2x 4 = 8), mỗi liên là một cặp câu liền nhau (liên = liền).

Hai « liên » đi liền nhau mà chữ thứ 2 cùng thanh thì gọi là một "niêm". Toàn bài có 3 niêm :
Niêm 1 là hai thanh t,t tô màu xanh ( thuộc hai câu 2 -3)
Niêm 2 là hai thanh b,b tô màu đỏ ( thuộc hai câu 4 – 5)
Niêm 3 là hai thanh t,t tô màu vàng (thuộc hai câu 6-7).

« Niêm » có vai trò ràng buộc, móc xích theo chiều dọc của bài thơ cho khỏi xộc xệch.

Niêm (nghĩa đen là cái mảnh giấy dán đè qua hai cánh cửa hoặc đồ vật, phong bì thư, phong bì đề thi: dấu hiệu cấm tự ý mở ra, gọi là « niêm phong »).

Ðể cho bài thơ uyển chuyển (tránh đơn điệu lặp lại), nhịp đi của "liên trên" phải khác nhịp đi của "liên dưới". Muốn vậy, tiếng thứ 2 của câu chẵn thuộc "liên trên" phải cùng thanh với chữ thứ 2 của câu lẻ thuộc "liên dưới" (dẫn đến các chữ chẵn cùng thanh). Sự giống nhau đó gọi là Niêm, tức là sự kết dính hai liên với nhau.

5- LUậT ĐỐI NGẫU
Hai câu thực đối nhau, hai câu luận đối nhau.

(Câu 3 đối 4, câu 5 đối 6).
Đối nghĩa là : đối thanh (trái thanh), đối từ loại (cùng từ loại) và đối ý (ý song hành hoặc ý tương phản)

Ta thử đọc bài "Không đề” của Lý Thương Ẩn
Câu 3 : Con tằm đến thác tơ còn vướng
Câu 4 : Chiếc nến chưa tàn lệ vẫn sa
Con / chiếc .
Tằm / nến .Bằng / trắc, danh từ / danh từ.
Vướng - sa : trắc - bằng, danh từ - danh từ.
Thác - tàn : trắc - bằng , động từ - động từ.
Câu 5 : “sáng soi gương”... đối với Câu 6 : “đêm ngâm thơ”v.v...

Lưu ý : Ðối ý có hai trường hợp:
- Ý đối lập chống lại nhau, diễn tả mâu thuẫn, xung đột (đối tương phản /phản đối )
- Ý bổ sung tăng cường cho nhau (đối tương hỗ /song hành). Kiểu này phổ biến trong Đường luật bởi tính cách nhà thơ cổ điển thích hài hòa, ít tranh cãi đả kích.

Hai kiểu đối ngẫu làm cho bài thơ ngắn mà ý tưởng được nhấn mạnh, dứt khoát.

6. LUậT GIEO VầN

Thơ Ðường luật chỉ gieo một vần là vần bằng (bình), hiếm khi gieo vần trắc. Bài «Vô đề» gieo một vần là «an». Bài «Tiên tử tống Lưu Nguyễn xuất động » gieo một vần là «ai».

Gieo vần vào tiếng cuối của câu 1, 2, 4, 6 và 8. (ngoại lệ: riêng câu 1 bát cú ngũ ngôn có thể không gieo vần cũng được).

Trong thực tế sáng tác, các nhà thơ đời sau đã sáng tạo thêm những biệt thể mới như tiệt hạ (ý mỗi câu còn lơ lửng), yết hậu (câu cuối còn thiếu một số tiếng), thủ vĩ ngâm (câu một giống câu tám, đọc vòng tròn...) .v.v... nhưng không mẫu mực.

(còn tiếp)

----
Bài này nhằn hoài không vô, nên tôi không có thắc mắc gì hết. Chỉ có vài nhận xét riêng, kết quả của quá trình tự khám phá quy luật để nhớ, như sau, không hiểu thầy GNLT sẽ nói gì:
 -
Vì chỉ có 2 thanh bằng và trắc nên thật ra sự khác biệt về âm thanh giữa các câu thơ chỉ là sự khác biệt về các kiểu tổ hợp (1 thanh trắc/bằng, 2 thanh trắc/bằng đi liền nhau, 3 thanh trắc/bằng đi liền nhau) và vị trí của các thanh điệu đặt trong câu thơ.


Vì câu thơ chỉ có 7 từ nên số kiểu tổ hợp và vị trí cũng không quá nhiều, vì vậy thực sự ta chỉ có 4 loại câu với các kiểu tổ hợp sau đây:

1. b b t t t b b (2 bằng, 3 trắc, 2 bằng, tức tổ hợp 2-3-2) --> câu 1, 4, 8 trong bài thơ luật bằng (tạm gọi câu loại A)
2. t t b b t t b (2 trắc, 2 bằng, 2 trắc, 1 bằng, tức tổ hợp 2-2-2-1) --> câu 2, 6 trong bài thơ luật bằng (câu loại B)
3. t t b b b t t (2 trắc, 3 bằng, 2 trắc) --> câu 3,7 trong bài thơ luật bằng; thực chất đây là câu thơ theo cùng kiểu tổ hợp của câu 1, nhưng đổi ngược thanh điệu bằng thành trắc. (câu loại C)
4. b b t t b b t (2 bằng, 2 trắc, 2 bằng, 1 trắc) --> câu 5 trong bài thơ luật bằng; thực chất đây là câu thơ theo cùng kiểu tổ hợp của câu 2 nhưng đổi ngược thanh điệu trắc thành bằng). (câu loại D)

(Hai câu màu xanh là ngược nhau về thanh và giống nhau về cách tổ hợp, hai câu màu đỏ cũng vậy.)

Bài thơ vần trắc cũng chỉ là 4 kiểu câu nói trên nhưng được sắp đặt ở các vị trí khác nhau trong bài thơ. Cụ thể, bài thơ vần trắc được sắp xếp như sau:

1. Câu loại B ở trên t t b b t t b: câu 1, 4, 8 trong bài thơ luật trắc
2. Câu loại A ở trên b b t t t b b: câu 2, 6 trong bài thơ luật trắc
3. Câu loại D ở trên  b b t t b b t: câu 3, 7 trong bài thơ luật trắc
4. Câu loại C ở trên t t b b b t t: câu 5 trong bài thơ luật trắc

Tóm lại, với 4 loại câu thơ (với các tổ hợp thanh điệu khác nhau) là A, B, C, D, ta có bài thơ luật bằng và bài thơ luật trắc như sau:
Luật bằng: A B C A D B C A
Luật trắc: B A D B C A D B

Không hiểu có gì sai sót ở đây không nhỉ; mà rút ra quy luật rồi sao thấy vẫn chưa nhớ nổi? Hình như em không thể nào chịu nổi mấy cái trò niêm với luật này thầy GNLT ơi!!!!

Trước khi đăng bài viết giới thiệu về thơ Đường của "thầy" GNLT, xin có mấy dòng giải thích dài dòng dưới đây.

Số là anh GNLT (http://giangnamlangtu.wordpress.com), một bạn đọc của blog này, là một thầy giáo dạy Văn với đâu đó 40 năm thâm niên, chuyên dạy văn học nước ngoài, hình như thế, trong đó văn học Trung Hoa và thơ đời Đường chính là sở trường của anh. Đọc bloganhvu lâu nay, anh GNLT nhận ra rằng chủ nhân blog là người thích thơ, kể cả thơ Đường, nhưng lâu lâu lại tỏ ra ... mất căn bản trầm trọng, và có những phát biểu ... rất lăng nhăng, cảm tính, đoán mò về ý nghĩa của các bài thơ.

Với trách nhiệm của một người cả đời nghiên cứu và giảng dạy thơ Đường, "thầy" GNLT rõ ràng khó lòng có thể chấp nhận những phát biểu như vậy, mà lại là ở một người quen nữa chứ. Và đó là lý do tôi đã nhận được những bài viết (well, thực ra là bài giảng) của "thầy" GNLT gửi đến qua mail để mà đọc, để mà giúp ... xóa nạn mù Đường thi của tôi đi, cho nó đỡ ngứa mắt mỗi khi đọc blog của tôi, hi hi.


Tôi đã đọc (thoáng qua thôi), và thấy bài soạn của anh GNLT khá bài bản, công phu, nếu chỉ để cho một mình tên học trò vừa lười vừa dốt là tôi đọc thì phí quá, nên đưa lên đây để cùng chia sẻ với mọi người. Ngoài ra, đưa lên blog còn giúp tôi lưu và tìm lại bài một cách dễ dàng hơn (với chức năng tìm kiếm trên blog), chứ lưu bằng file trong máy thì sẽ khó tìm hơn nhiều, vì trong máy tôi chứa quá nhiều thứ lộn xộn. 

Cuối cùng, tựa bài của anh GNLT gửi cho tôi là Nhập môn Đường thi, nhưng tôi thấy chữ "nhập môn" nghe ... nghiêm túc quá và hơi khô khan nữa (ấy là đối với học sinh lười và dốt như tôi thôi), nên mới bày đặt đổi lại cái tựa như các bạn đã thấy ở trên, cho nó ... là lạ, hấp dẫn chút vậy mà. Nếu có gì sai (vì nó là tiếng Hán Việt) thì "thầy" GNLT cứ cạo sửa học trò tới bến nhen thầy! Nhưng xin báo trước: thầy mà khắt khe quá thì học trò trốn mất tiêu, lúc ấy có khi thầy lại năn nỉ để học trò nó học ... giùm cho đấy nhé!

Nào, chúng ta cùng học Đường thi. Bài của thầy dài hơn, tôi cắt ngắn ra cho đỡ ... ngán đây này. Sẽ còn những bài sau, các bạn nhé.

-----------------
THƠ ÐƯỜNG (đường thi)

Văn học thời Ðường rất phát triển, trước hết là nhờ đa nguyên tu tưởng (ba hệ tư tưởng Nho, Phật và Ðạo đều được tự do thịnh hành), vua chúa khuyến khích thi văn, nền giáo dục cổ vũ làm thơ qua thi cử… Nổi bật nhất là thơ, sau đến họa và nhạc. Văn xuôi cũng bắt đầu nở rộ.

Thơ Ðường tiếp thu, kế thừa cả quá trình phát triển lâu dài của thơ ca Trung Quốc (từ Kinh Thi, Nhạc Phủ, thơ Kiến An, Sở từ, dân ca hào phóng miền Bắc, dân ca uyển chuyển phương Nam và lí luận thơ ca của các thời đại trước.

Ở Trung Quốc, 2 300 tác giả và 60 000 bài thơ đã được sưu tập. Ở Việt Nam đến nay mới chỉ dịch Việt ngữ khoảng 1 000 bài (tuy mới có 1/60 nhưng là tinh tuyển rồi).

Thơ Ðường phát triển theo bốn giai đoạn Sơ - Thịnh - Trung - Vãn.

Sơ Ðường là giai đoạn chuẩn bị mọi mặt cho thơ, còn mang tính chất uỷ mỵ với bốn nhà thơ nổi tiếng (Sơ Đường tứ kiệt): Vương Bột, Dương Quýnh, Lư Chiếu Tân và Lạc Tân Vương. Cuộc đời họ gặp nhiều bất hạnh nhưng trong thơ vẫn có những tình cảm tích cực lành mạnh. Sau đó, Trần Tử Ngang đề xướng chủ trương khôi phục tinh thần phong nhã và đặt nền móng cho thơ hiện thực. Nhược điểm của thời kỳ này là khi viết về chiến tranh, âm hưởng chủ đạo của họ là khẳng định, ca ngợi.

Thịnh Ðường là giai đoạn rực rỡ nhất của thơ, đạt đến sự thống nhất hoàn mỹ giữa nội dung và hình thức với nhiều nhà thơ lớn, nhiều lưu phái, có khi chỉ hai nhà thơ tạo đủ ra một thi phái (nguyên gốc gọi là “lưu phái”, nhưng người Việt ưa gọi nhầm là “trường phái” (cùng học một trường, cùng thầy mới gọi là “trường phái” được).

Lý Bạch, Đỗ Phủ, Vương Duy là những cây bút lỗi lạc vang danh thên hạ bên cạnh Vương Xương Linh, Cao Thích, Sầm Tham, Mạnh Hạo Nhiên, Lý Kỳ…

Trung Ðường, có thể coi Ðỗ Phủ là chiếc cầu nối giữa Thịnh Ðường và Trung Ðường. Thơ ông phản ánh hiện thực xã hội một cách sâu rộng. Hiện tượng nổi bật là phong trào thơ phúng dụ trữ tình của Bạch Cư Dị thể hiện sự đồng tình sâu sắc với nhân dân và phản ánh sinh động mâu thuẫn giai cấp gay gắt trong xã hội (nổi bật với bài "Tì bà hành"). Trong khi đó, một số nhà thơ vẫn sáng tác theo lối điền viên. Liễu Tông Nguyên làm thơ ngụ ngôn rất sở trường, phản ánh nỗi khổ của dân chúng và phê phán bọn thống trị. Do bất mãn, u hoài, bực bội đôi khi ông rơi vào hư vô. Lí Hạ là nhà thơ có biệt tài xây dựng tứ thơ độc đáo, hình ảnh kỳ lạ, từ ngữ mới mẻ (quỉ tài).

VÃN ĐƯỜNG
Ðến thời này vẫn còn nhiều nhà thơ tài năng xuất hiện với cảm hứng Ðạo giáo, có ít nhiều tiến bộ như Tào Nghiệp, Ôn Ðình Quân, Lý Thương Ẩn và Ðỗ Mục, chia thành nhiều nhóm “lãng mạn" khác nhau.

Một vài đặc điểm nổi bật của Đường thi:

(Phân loại, bố cục, luật ngữ âm, luật đối và luật vần)

1.Mấy đặc điểm chung về ngôn ngữ và cảm hứng chủ đạo

Ngôn ngữ thơ Ðường trong sáng, tinh luyện, tiết kiệm ngôn từ, súc tích, cô đọng. Ít khi thơ chịu nói hết ý, và không nói trực tiếp, mà chỉ dựng lên hàng loạt mối quan hệ để cho độc giả tự suy luận, còn gọi "vẽ mây, nẩy trăng " (chỉ tả đám mây, nhưng ta cảm thấy có vầng trăng khuất ở phía sau), ý ở ngoài lời, ý đến mà bút không đến, bút dừng mà ý không dừng, lời hết mà ý chưa hết...

Thơ Ðường luật có vẻ gò bó về hình thức nhưng vẫn dung nạp nhiều thủ pháp khác nhau, bảo đảm cho sự năng động của mọi nhà thơ, phổ biến nhất là thủ pháp ám thị và gợi ý.

Khái quát, thơ Ðường chịu chi phối bởi ba cảm hứng chủ đạo:
 

Cảm hứng 1: hướng về thế sự trước mắt, thơ u hoài, nặng niềm ưu tư xã hội, đó là cảm hứng của nhà Nho.
Cảm hứng 2: hướng về tư tưởng Ðạo giáo yêu thiên nhiên, cố xa lánh việc đời, theo tư tưởng Lão - Trang
Cảm hứng 3: hướng về Phật giáo, cố xa lánh đời nhưng vẫn còn gần gũi nhân thế.
 

Hai cảm hứng sau mang đậm tính trữ tình lãng mạn.
 

Có những bài thơ xen kẽ hai cảm hứng phức hợp, diễn tả đấu tranh nội tâm. Trong một đời thơ, có những thi nhân phải nhiều lần đổi thay cảm hứng. Thông thường, thời trai trẻ "lập ngôn" bằng cảm hứng Nho giáo. Về già, cảm hứng Ðạo giáo hoặc Phật giáo lại giành thế chủ đạo.

(còn tiếp)

-------
Phần thắc mắc của học trò PA:
1.  Trong khi đó, một số nhà thơ vẫn sáng tác theo lối điền viên. Sáng tác theo lối điền viên là sao hả thầy GNLT?
2. phổ biến nhất là thủ pháp ám thị và gợi ý. Thầy có thể cho ví dụ về mấy thủ pháp này không ạ? Nhất là thủ pháp "ám thị".

Cám ơn thầy GNLT nhiều nhiều.

-------------
Trả lời của thầy GNLT

 
1.  Trong khi đó, một số nhà thơ vẫn sáng tác theo lối điền viên. 

Cách phân chia đơn giản (hơi cổ xưa) gồm 03 phái:

“Phái điền viên” (nghĩa hẹp: phái ruộng vườn) đề tài cuộc sống hòa bình, nhà thơ vui thú điền viên, có chút băn khoăn về triết học… (Hồ Chí Minh đã viết bài phê phán nhóm này qua bài “Khán Thiên gia thi hữu cảm” (Cảm nghĩ đọc tập Thiên gia thi) trong Nhật ký trong tù, có câu “Thơ xưa (chỉ) yêu cảnh thiên nhiên đẹp…Nay ở trong thơ nên có thép…). Như các bài “Tầm ẩn giả bất ngộ” của Giả Đảo, “Lục ngôn tuyệt cú” của Vương Duy, “Đề đô thành nam trang” của Thôi Hộ”, “Hoàng hạc lâu” của Thôi Hiệu, .v.v.…

“Phái biên tái” (phiên âm khác: phái biên ải, biên giới cửa khẩu, thành lũy nơi xảy ra giao tranh dữ dội), gồm các nhà thơ quan tâm đề tài chiến tranh liên miên ở nhà Đường. Nổi bật là các bài tứ tuyệt “Quân hành”, “Xuân tứ” và “Song yến ly” của Lý Bạch , “Thạch hào lại” của Đỗ Phủ, “Lương châu từ” của Vương Hàn.v.v…

“Phái xã hội”: nhà thơ quan tâm đến các mâu thuẫn xã hội, sự bất công, éo le với cảm hứng phê phán chế độ phong kiến. Nổi bật như “Tì bà hành, Mại than giả” của Bạch Cư Dị. v.v…

Phái nào cũng có nhiều nhà thơ xuất sắc, để lại nhiều kiệt tác. Lý Bạch và nhiều thi nhân khác có sáng tác trong cả ba phái (thế thì còn gọi gì là phe phái nữa! Nên gọi là ba nhóm đề tài thì đúng hơn - Lãng tử)

 


2. phổ biến nhất là thủ pháp ám thị và gợi ý.

Thủ pháp “Ám thị” là dấy động tâm tưởng và ý nghĩa ẩn giấu sau tấm màn che phủ. Như bài “Lục ngôn tuyệt cú” của Vương Duy…
“Đào hồng phục hàm túc vũ
Liễu lục cánh đới triêu yên
Hoa lạc gia đồng vị tảo
Oanh đề sơn khách do miên”.
(dịch nghĩa: Hoa đào hồng vẫn còn ngậm nước mưa
Liễu xanh lại đầm sương sớm như khói bám
Hoa rụng người hầu chưa quét
Chim oanh cất tiếng, khách núi vẫn ngủ say)
Bạn đọc phải tưởng tượng, rung cảm thế nào trên bức tranh chung thì mới hiểu ý nghĩa bài thơ…Kiểu như bức họa “Mona Lisa” của Leonardo Da Vinci, tùy ý người xem cảm nhận và bình luận.

Thủ pháp“Gợi ý” tức là chỉ “tả” (tựa như chụp ảnh) mà không “nói năng” gì, phổ biến hơn “ám thị” … (trong thủ pháp “gợi ý” cũng có bao hàm “ám thị”)
Như bài “Tuyệt cú” của Đỗ Phủ:

“Lưỡng cá hoàng ly minh thúy liễu

Nhất hàng bạch lộ thướng thanh thiên
Song hàm Tây Lĩnh thiên thu tuyết
Môn bạc Đông Ngô vạn lý thuyền”

(xin khất phần bình giảng qua bài sau VỀ “TỨ TUYỆT”).

Phân tích kiểu bài này rất khó, cần nhiều lý trí, tổng hợp cả bài theo một logic nào đó thì mới khám phá được ý tứ nhà thơ. Thủ pháp “gợi ý” là đặc trưng của cổ thi, khác hẳn thơ hiện đại ưa “điệu nói” nhiều hơn.
GNLT

Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.